1. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, du lịch được xác định là ngành kinh tế quan trọng và nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, những năm qua ngành Du lịch Việt Nam gặp nhiều bất lợi về phát triển và cạnh tranh. Một trong những nguyên nhân lớn là chất lượng NNLDL thấp, chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Để ngành Du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước, nâng khả năng cạnh tranh giữa bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới thì việc nâng cao chất lượng NNLDL, nhất là NNLDLCLC đang là đòi hỏi cấp thiết. Giải pháp quan trọng và thiết thực nhằm cải thiện chất lượng NNLDL là các cơ sở đào tạo cần xây dựng chương trình đào tạo theo hệ thống tiêu chuẩn nghề du lịch của khu vực và thế giới; xác định mục tiêu đào tạo chuyển từ hướng cung sang hướng cầu, đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp.

Thực trạng đào tạo tại các trường du lịch nói chung và Trường Đại học Khánh Hòa trong những năm qua nói riêng chỉ mới đáp ứng được nguồn nhân lực du lịch phổ thông, để tiến tới đào tạo NNLDLCLC theo nhu cầu xã hội thì Trường Đại học Khánh Hòa cần nhanh chóng khắc phục một số khó khăn về: cơ sở vật chất, đổi mới chương trình, đồng bộ đội ngũ giảng viên, hợp tác đào tạo trong nước và quốc tế.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả tiến hành nghiên cứu các vấn đề chính: lý luận về NNLDLCLC, các bộ tiêu chuẩn nghề du lịch ở Việt Nam và khu vực, năng lực đào tạo du lịch của Trường Đại học Khánh Hòa. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm định hướng đào tạo du lịch trong tương lai của trường theo hướng NNLDLCLC đáp ứng nhu cầu tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Hạn chế của bài viết: tác giả không có thời gian điều tra khảo sát ý kiến cơ sở sử dụng lao động về chất lượng đào tạo du lịch của Trường Đại học Khánh Hòa để đo lường chất lượng NNLDL trường đã đào tạo.

2. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

2.1. Cơ sở lý thuyết và tiêu chí đánh giá nhân lực du lịch chất lượng cao

#### 2.1.1. Quan điểm về nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao

Quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao

Tại Hội nghị BCHTW lần thứ 6 khóa IX, lần đầu tiên Đảng sử dụng thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao: "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua con đường phát triển, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ chính là khâu then chốt để nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển". Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng ta nhấn mạnh thuật ngữ này khi nêu định hướng chính sách tập trung phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao: "Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút các nhà khoa học công nghệ giỏi trong nước và ngoài nước, trong cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài". Như vậy, theo quan điểm của Đảng thì nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ, các công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao.

Thời gian qua ở trong nước có nhiều nhà nghiên cứu nêu quan điểm về thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao, có thể nêu tiêu biểu như:

Theo Đinh Sơn Hùng và Trần Gia Trung Định (2011): "Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ những người lao động đã được đào tạo, có trình độ học vấn, trình độ tay nghề cao (về chuyên môn, kỹ thuật) tương ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu chí phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề) và trên thực tế có kỹ năng lao động giỏi. Những lao động này có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi liên tục của môi trường công việc, có sức khỏe và phẩm chất tốt, có tính kỷ luật, có đạo đức và tác phong nghề nghiệp, mong muốn đóng góp tài năng, công sức của mình cho sự thành công, phát triển chung của tập thể. Cao hơn nữa, đó là những lao động có khả năng vận dụng những tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm sáng tạo, cải tiến năng suất, chất lượng và mang lại hiệu quả cao trong công việc." [3]

Theo Chu Hảo (2012): "Nhân lực chất lượng cao trước hết phải được thừa nhận trên thực tế, không phải ở dạng tiềm năng. Điều đó có nghĩa là nó không đồng nghĩa với học vị cao. Nhân lực chất lượng cao là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội." [2]

Quan niệm về nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao

Theo Nguyễn Văn Lưu (2016): "Nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao là một bộ phận đặc biệt của nguồn nhân lực du lịch, bao gồm những người có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên đảm nhiệm các chức danh quản lý nhà nước về du lịch, hoạt động sự nghiệp du lịch (nghiên cứu và đào tạo du lịch), quản trị doanh nghiệp du lịch, các lao động lành nghề là những nghệ nhân, những nhân lực du lịch trực tiếp được xếp từ bậc 3 trở lên, đang làm việc trong các lĩnh vực của ngành du lịch, có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển bền vững, có trách nhiệm của ngành du lịch." [6]

Mặc dù mỗi nhà nghiên cứu nêu lên những nhận định riêng, nhưng có thể rút ra quan điểm chung về nguồn nhân lực chất lượng cao phải thể hiện hai yếu tố: được đào tạo tốt và khả năng làm việc, khả năng thích nghi trong môi trường công việc thực tiễn.

#### 2.1.2. Các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao

Theo Nguyễn Văn Lưu (2016), tiêu chí đánh giá NNLDLCLC gồm hai nhóm: nhóm tiêu chí định tính và nhóm tiêu chí định lượng.

Tóm lại, để đánh giá NNLDLCLC cần xem xét 4 nhóm tiêu chí cơ bản:

Một là, năng lực chuyên môn: sự am hiểu kiến thức chuyên ngành, độ thành thạo về nghiệp vụ;

Hai là, đạo đức nghề nghiệp: tinh thần kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, tuân thủ Luật Du lịch, ý thức vì tập thể và vì cộng đồng, trung thực, uy tín;

Ba là, kỹ năng xã hội: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo, khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu công việc, kỹ năng tự học;

Bốn là, năng lực thực tế cao: khả năng ứng dụng kiến thức vào công việc, năng lực cạnh tranh, khả năng thực hiện hiệu quả công việc và có trách nhiệm với công việc.

Theo tác giả cần quan tâm thêm tiêu chí thứ 5 là kỹ năng sử dụng ngôn ngữ: sử dụng tốt tiếng Việt, lưu loát một ngoại ngữ phổ thông.

Như vậy, cơ sở đào tạo muốn đào tạo NNLDLCLC cần xem xét các vấn đề như: xây dựng chương trình đào tạo dựa trên các bộ tiêu chuẩn nghề du lịch ở Việt Nam và khu vực ASEAN, tỷ lệ khối kiến thức chuyên ngành đối với khối kiến thức cơ sở và cơ sở ngành, đội ngũ giảng viên được đào tạo chuyên ngành và có tay nghề du lịch, trang thiết bị và phòng thực hành theo chuẩn Tổng cục Du lịch quy định và Hội đồng cấp chứng chỉ nghiệp vụ du lịch Việt Nam (Hội đồng VTCB) chú trọng thực hành và thực tế kỹ năng nghề cho sinh viên, đào tạo hiệu quả ngoại ngữ chuyên ngành du lịch, tạo điều kiện cho giảng viên học tập cập nhật tiêu chuẩn nghề và thực tế nghề.

2.2. Các bộ tiêu chuẩn đào tạo nghề du lịch ở Việt Nam

Bộ tiêu chuẩn nghề ASEAN

Để chuẩn bị cho việc áp dụng Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về lao động du lịch trong ASEAN (MRA-TP), ASEAN đã hoàn thành việc xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề và giáo trình đào tạo du lịch chung ASEAN cho 6 nghề du lịch đang thu hút nhiều lao động nhất gồm: lễ tân, buồng, phục vụ nhà hàng, chế biến món ăn và thành lập Ủy ban Giám sát nghề du lịch ASEAN (ATPMO) để tổ chức triển khai MRA-TP.

Trên cơ sở đó ngành du lịch Việt Nam đã đối chiếu các tiêu chí trong Bộ tiêu chuẩn nghề ASEAN để từng bước điều chỉnh chương trình đào tạo nghề du lịch chuẩn quốc gia, Tổng cục Du lịch cũng thực hiện mô hình đào tạo thí điểm và khuyến khích các cơ sở đào tạo thực hiện bộ tiêu chuẩn nghề chung của khu vực.

Bộ tiêu chuẩn nghề VTOS

Theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, đến năm 2015, vấn đề nguồn nhân lực vẫn là một trong những khâu yếu nhất của ngành du lịch Việt Nam: thiếu hụt nhân sự quản lý cao cấp, lực lượng lao động trực tiếp chưa đạt chuẩn từ thái độ phục vụ, tác phong đến nghiệp vụ chuyên môn. Trong xu hướng hiện nay, mỗi năm ngành du lịch có nhu cầu tuyển dụng lớn hơn số lượng sinh viên tốt nghiệp, và khi triển khai thỏa thuận MRA-TP thì nhân lực du lịch Việt Nam sẽ cạnh tranh với nhân lực du lịch các nước trong khối về số lượng và chất lượng. Chất lượng nguồn nhân lực du lịch đang là thách thức lớn cho ngành du lịch Việt Nam nói chung và các cơ sở đào tạo du lịch nói riêng.

Để giải quyết vấn đề thiếu hụt nhân lực, Tổng cục Du lịch đã ban hành "Tiêu chuẩn kỹ năng của nghề du lịch Việt Nam - VTOS" với sự hỗ trợ của Dự án EU được thực hiện tại các cơ sở đào tạo du lịch. Thông qua bộ tiêu chuẩn nghề VTOS này, các trường đại học, cao đẳng đào tạo du lịch sẽ được trang bị bài bản hơn để đào tạo một lực lượng lao động có chất lượng mà ngành du lịch đang thực sự cần.

Đến năm 2007 - Dự án EU giai đoạn 1 (2005 - 2010), đã xây dựng bộ tiêu chuẩn VTOS với 13 tiêu chuẩn VTOS hiện nay đang được các doanh nghiệp và các trường đào tạo nghề du lịch sử dụng rộng rãi, cụ thể: nghiệp vụ Buồng, nghiệp vụ An ninh khách sạn, nghiệp vụ Lễ tân, nghiệp vụ Nhà hàng, nghiệp vụ Chế biến món ăn Việt Nam, nghiệp vụ Chế biến món ăn Âu, nghiệp vụ Làm bánh Âu, nghiệp vụ Đặt giữ buồng khách sạn, nghiệp vụ Quản lý khách sạn nhỏ, nghiệp vụ Đại lý lữ hành, nghiệp vụ Điều hành tour, nghiệp vụ Hướng dẫn du lịch, nghiệp vụ Đặt giữ chỗ lữ hành.

Dự án Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội do Liên minh Châu Âu tài trợ (Dự án EU giai đoạn 2, 2011 - 2015), tiếp tục mở rộng độ bao phủ của Hệ thống VTOS. Nhằm tạo điều kiện cho tất cả các doanh nghiệp, người lao động, giảng viên, học viên được tiếp cận với nội dung đầy đủ bộ Tiêu chuẩn VTOS hiện hành, Dự án EU phối hợp với Hội đồng VTCB phổ biến toàn bộ nội dung tài liệu hướng dẫn của bộ tiêu chuẩn VTOS.

Năm 2015 bộ tiêu chuẩn nghề VTOS đã được điều chỉnh và cập nhật dưới dạng cấu trúc module với 10 tiêu chuẩn VTOS phiên bản 2013 đã được Tổng cục Du lịch phê duyệt để triển khai thực hiện trong ngành du lịch, cụ thể: hoạt động du lịch và du lịch, hướng dẫn du lịch, thuyết minh du lịch, phục vụ trên tàu thủy du lịch, lễ tân, phục vụ buồng, phục vụ nhà hàng, chế biến món ăn, quản lý khách sạn, vận hành cơ sở lưu trú nhỏ.

Bộ tiêu chuẩn VTOS phiên bản mới được xây dựng và dựa trên thang chuẩn là các tiêu chuẩn nghề quốc tế và phù hợp với hướng dẫn trong Quyết định số 09/2008/QĐ-BLĐTBXH của Bộ LĐTB&XH, tương thích với Tiêu chuẩn Năng lực chung về nghề Du lịch trong ASEAN (ACCSTP), đáp ứng các quy định của Thỏa thuận MRA-TP. Trong đó quy định các nguyên tắc và quy trình xây dựng tiêu chuẩn kĩ năng nghề quốc gia, cung cấp danh mục hơn 65 chứng chỉ du lịch. Dự án EU cùng Hội đồng VTCB khuyến khích các cơ sở đào tạo du lịch, các doanh nghiệp và người lao động áp dụng tiêu chuẩn VTOS trong công tác đào tạo và thực hiện công việc của mình nhằm chuẩn hóa các kỹ năng nghề từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

2.3. Trường Đại học Khánh Hòa hướng tới đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao

Đào tạo Du lịch là một trong những chương trình trọng điểm của Trường Đại học Khánh Hòa, hàng năm trường cung cấp nguồn nhân lực chiếm đến 2/3 tổng nhu cầu nhân lực du lịch của tỉnh, một phần cung cấp cho các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Trên thực tế phát triển của ngành du lịch Việt Nam nói chung và khu vực duyên hải Nam Trung bộ nói riêng, nhu cầu NNLDL trong tương lai sẽ lớn về số lượng và khắt khe hơn về chất lượng. Bên cạnh đó, Việt Nam ký kết MRA-TP mở ra nhiều cơ hội và thách thức đối với nhân lực du lịch Việt Nam mà điểm bị tác động đầu tiên là các cơ sở đào tạo du lịch. Một thách thức lớn hơn cho Trường Đại học Khánh Hòa là sự cạnh tranh trong đào tạo du lịch giữa các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh, điều này càng đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng nâng cấp chất lượng đào tạo.

Trước nhu cầu cấp thiết về NNLDLCLC, công tác đào tạo du lịch tại Trường Đại học Khánh Hòa có những thuận lợi và khó khăn sau:

Thuận lợi

Thứ nhất, trường là cơ sở đào tạo du lịch có uy tín ở Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên hơn 10 năm qua, được nhiều địa phương và doanh nghiệp tin tưởng lựa chọn làm đối tác liên kết đào tạo các khóa ngắn hạn, dài hạn; các doanh nghiệp du lịch luôn ưu tiên tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ trường.

Thứ hai, đội ngũ giảng viên hùng hậu với 32 giảng viên được đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh du lịch; 50% giảng viên đã từng công tác tại các doanh nghiệp du lịch, 30% giảng viên hiện vẫn làm nghề du lịch; 100% giảng viên đến cơ sở du lịch thực hành hàng năm.

Thứ ba, trong thời gian dự án EU giai đoạn 1 (2005 - 2010) - Trường là một trong những trung tâm thẩm định của dự án, giảng viên khoa Du lịch được tham gia các lớp đào tạo nghiệp vụ theo tiêu chuẩn của Tổng cục Du lịch, 17 giảng viên được cấp chứng chỉ đào tạo viên VTOS thuộc hệ thống quản lý của Tổng cục Du lịch và VTCB (trong đó có 4 giảng viên được cập nhật tiêu chuẩn VTOS giai đoạn 2 cho đào tạo viên). Giai đoạn 2 của dự án EU (2011-2016). Trường có 5 giảng viên được tham gia khóa kỹ thuật chuyên ngành du lịch, 4 giảng viên tham gia khóa đào tạo đào tạo viên. Tháng 8/2016 Chủ tịch Hội đồng VTCB đã ra Quyết định số 122/QĐ-VTCB công nhận 217 học viên các trường đào tạo du lịch trong cả nước đã qua khóa đào tạo và đạt tiêu chuẩn đào tạo viên VTCB theo tiêu chuẩn VTOS, trong đó có 3 giảng viên của Đại học Khánh Hòa. Như vậy, hiện nay Đại học Khánh Hòa đang sở hữu nguồn giảng viên chuyên ngành, nhiều kinh nghiệm và đạt tiêu chuẩn đào tạo nghề quốc gia.

Thứ tư, trung bình hàng năm có hơn 500 sinh viên tốt nghiệp từ trường với ba chuyên ngành: Quản trị kinh doanh khách sạn - nhà hàng, Quản trị lữ hành, Hướng dẫn viên du lịch. 80% sinh viên sau khi ra trường làm việc đúng chuyên môn, một số cựu sinh viên hiện đang công tác tại các cơ quan quản lý văn hóa, cơ quan quản lý du lịch, giảng viên trường du lịch, thành lập doanh nghiệp du lịch. Hầu hết đều được cơ sở sử dụng nguồn nhân lực đánh giá tốt về kỹ năng nghiệp vụ.

Thứ năm, khoa Du lịch nhận được sự ủng hộ lớn từ phía Lãnh đạo nhà trường và các phòng ban. Luôn ưu tiên cho công tác đổi mới phương pháp đào tạo, trang thiết bị dạy học, các chương trình hợp tác đào tạo với doanh nghiệp; thực hành, thực tế của sinh viên; tạo điều kiện và cơ hội để giảng viên học tập, tập huấn nhằm cập nhật và nâng cao kiến thức nghề cùng kỹ năng nghề.

Những thuận lợi này là điểm mạnh để Đại học Khánh Hòa hướng đến chương trình đào tạo NNLDLCLC, đáp ứng nhu cầu thị trường du lịch trong nước, yêu cầu về tính chuyên nghiệp của ngành dịch vụ hiện đại và hội nhập, toàn cầu hóa.

Khó khăn

Thứ nhất, cơ sở vật chất nói chung của Trường và trang thiết bị phục vụ đào tạo du lịch còn hạn chế: thiếu về số lượng và lạc hậu về chất lượng.

Thứ hai, thiếu phòng thực hành Hướng dẫn và Lữ hành; chưa có phòng giảng dạy lý thuyết, phòng giảng dạy thực hành theo tiêu chuẩn VTCB.

Thứ ba, một số giảng viên trẻ vững chuyên môn nhưng hạn chế về thực tế nghề du lịch, đa số giảng viên khoa du lịch chưa qua các khóa tập huấn tiêu chuẩn nghề du lịch quốc gia.

Thứ tư, trong chiến lược phát triển đào tạo du lịch và nâng cao chất lượng đào tạo du lịch của trường thiếu sự liên kết với Hội đồng VTCB, Tổng cục Du lịch Việt Nam.

Trên đây là một số khó khăn không chỉ riêng ở Đại học Khánh Hòa mà cũng là thực trạng của đa số trường đào tạo du lịch trên cả nước hiện nay, nếu quyết tâm chỉ trong thời gian ngắn Đại học Khánh Hòa có thể khắc phục triệt để các lực cản này.

2.4. Một số giải pháp nhằm đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao tại Đại học Khánh Hòa trong thời gian tới

Trên thực tế, đào tạo nguồn nhân lực phải dựa vào nhu cầu của xã hội, vào xu hướng phát triển của nền kinh tế, đào tạo đúng yêu cầu sử dụng, tiếp cận tinh hoa tri thức nhân loại. Những nhận định mang tính tổng quát về thuận lợi và khó khăn nêu trên là tiền đề cơ sở cho Đại học Khánh Hòa xem xét và hóa giải bằng các chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, bước đi và hành động cụ thể phù hợp với nhu cầu NNLDLCLC của thị trường Việt Nam và thị trường ASEAN trong tương lai.

Hướng tới đào tạo NNLDLCLC, Đại học Khánh Hòa có thể tập trung vào một số giải pháp ban đầu sau:

Về mặt nhận thức và quan điểm chỉ đạo cần phải xác định đào tạo NNLDLCLC là trách nhiệm của mỗi giảng viên, là lợi thế cạnh tranh về thương hiệu đào tạo du lịch cho Trường trên phương diện cả nước, là yếu tố thu hút người học.

Đầu tư cơ sở vật chất phòng học, trang thiết bị dạy học du lịch, phòng học thực hành du lịch theo tiêu chuẩn nghề du lịch quốc gia.

Nâng cao chất lượng giảng viên thông qua các hoạt động cụ thể: học tập nâng cao trình độ và phát triển chuyên sâu, thực hành tại cơ sở kinh doanh du lịch nhằm trau dồi và bồi dưỡng kinh nghiệm thực tế nghề, tham gia các lớp tập huấn, các khóa ngắn hạn về đào tạo nghề du lịch do Tổng cục Du lịch và Hội đồng VTCB tổ chức, đổi mới phương pháp dạy học, giao lưu học tập kinh nghiệm đào tạo từ các cơ sở đào tạo trong nước và nước ngoài. Phát triển đội ngũ giảng viên dạy học phần nghiệp vụ có trình độ cao và cơ cấu hợp lý.

Xây dựng và cải tiến giáo trình: công tác biên soạn giáo trình du lịch đã được nhà trường quan tâm, tuy nhiên mới chỉ có giáo trình cá nhân của giảng viên chưa có giáo trình thống nhất và chính thức, một số giáo trình du lịch tham khảo soạn giáo án cũng không theo kịp sự thay đổi của thực tế ngành du lịch Việt Nam và thế giới. Vì vậy, khoa Du lịch cần có kế hoạch lâu dài về công tác biên soạn giáo trình, các giáo trình chuyên ngành. Công tác biên soạn có thể tiến hành qua các bước: khảo sát nhu cầu về tiêu chuẩn nghề từ doanh nghiệp du lịch, thành lập nhóm chuyên môn xây dựng các kiến thức và kỹ năng tương ứng, tập hợp giảng viên có kinh nghiệm và thực tế nghề du lịch đảm nhiệm việc biên soạn, thành lập hội đồng khoa học (giảng viên bộ môn, chuyên gia biên soạn giáo trình, nhà nghiên cứu du lịch, chuyên gia từ doanh nghiệp) đánh giá và nghiệm thu.

Về mục tiêu đào tạo, cần hướng tới đào tạo gắn liền với cơ hội việc làm và thăng tiến cho người học, đào tạo gắn liền với nhu cầu sử dụng. Nhà trường nên có sự hợp tác với doanh nghiệp kinh doanh du lịch, cơ quan quản lý du lịch từ trung ương đến địa phương trong việc biên soạn chương trình đào tạo. Thông qua các hội nghị, hội thảo với cơ quan, doanh nghiệp tiếp nhận sự đánh giá, góp ý từ các nhà sử dụng sản phẩm đào tạo của Trường. Đây là cách thức hiệu quả nhất giúp Nhà trường nắm được nhu cầu thực tế về NNLDLCLC.

3. Kết luận

Nghị quyết số 34/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Khánh Hòa nêu rõ mục tiêu: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quan tâm phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ. Trong mục tiêu kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 xác định dịch vụ - du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Như vậy, tỉnh sẽ có những chính sách ưu tiên và hành động cụ thể cho việc đào tạo NNLDLCLC, đây là cơ hội lớn cho các cơ sở đào tạo du lịch trên địa bàn Khánh Hòa.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996, 2001, 2006, 2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Chu Hảo (2012), Nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa học vị cao. http://www.doanhtri.vn/article/chuyen-muc-chuyen-gia/nhan-luc-chat-luong-cao-khong-dong-nghia-hoc-vi-cao.aspx, truy cập ngày 9/2/2017.

3. Đinh Sơn Hùng, Trần Gia Trung Định (2011), Tổng quan lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao, Hội thảo khoa học: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - nhu cầu cấp bách, thành phố Hồ Chí Minh.

4. Luật Du lịch Việt Nam (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Nguyễn Văn Lưu (2013), Du lịch Việt Nam hội nhập trong ASEAN, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

6. Nguyễn Văn Lưu (2016), Nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao yếu tố cốt lõi của các nguồn lực phát triển du lịch, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao thực trạng và giải pháp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016.

7. Nguyễn Tôn Nhan, Phú Văn Hẳn (đồng chủ biên) (2013), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.

8. Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐND ngày 02/02/2007 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Khánh Hòa đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020".

9. Nghị quyết số 34/NQ-HĐND ngày 09/12/2015 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Khánh Hòa về "Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016-2020".

10. Kết luận số 53-KL/TW ngày 24/12/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về "Xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030", Hà Nội.

11. Quyết định số 09/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 27/03/2008 của Bộ Lao động - Thương binh xã hội về việc "Ban hành quy định nguyên tắc, quy trình xây dựng và ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia", Hà Nội.

12. http://www.esrt.vn

13. http://www.vietnamtourism.gov.vn/

14. http://www.vtcb.org.vn