I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoạt động chính của hướng dẫn viên du lịch (HDVDL) là thuyết minh phục vụ du khách. Nội dung thuyết minh về một điểm du lịch hay một vùng miền không dừng lại ở thông tin du lịch, mà bao gồm nhiều nhóm thông tin bổ trợ như: địa lý văn hóa, lịch sử, dân cư, kinh tế, kiến trúc, tôn giáo, pháp luật... Điều này đòi hỏi người làm nghề HDVDL phải có quá trình học tập, tự tích lũy kiến thức lâu dài và thường xuyên. Trong khối thông tin bổ trợ thì lịch sử địa phương (LSĐP) là kiến thức vô cùng cần thiết, được HDVDL thường xuyên sử dụng để giới thiệu khái quát về địa phương, giúp du khách có hiểu biết cơ bản và chính xác về mỗi vùng đất khi họ đến du lịch.

II. NỘI DUNG

1. Quan niệm về lịch sử địa phương

Muốn hiểu lịch sử địa phương trước hết cần hiểu thuật ngữ "địa phương"; địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong Quốc gia có những sắc thái đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu thành của đất nước. Địa phương hiểu theo nghĩa cụ thể là những đơn vị hành chính của một Quốc gia, đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn, bản, làng, buôn, ấp... Vậy, tri thức lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể sinh động, đa dạng của tri thức lịch sử dân tộc.

Tri thức LSĐP là một bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc, LSĐP chính là những biểu hiện đa dạng và sinh động của tri thức lịch sử dân tộc. Ở mỗi địa phương đều có những sự kiện, hiện tượng, nhân vật, địa danh lịch sử gắn chặt với không gian và con người cụ thể. Vì vậy, muốn hiểu rõ về lịch sử dân tộc bắt buộc người học phải có kiến thức về LSĐP.

Tri thức LSĐP giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy lịch sử dân tộc, đồng thời góp phần tạo sự sinh động cho bài giảng lịch sử, gây hứng thú học tập cho học sinh – sinh viên, giúp tạo dựng lòng tự hào về những truyền thống tốt đẹp của địa phương và khơi dậy tình yêu quê hương đất nước.

Cũng như lịch sử dân tộc, LSĐP được thể hiện thông qua 6 nguồn tư liệu lịch sử bao gồm: tư liệu lịch sử thành văn; tư liệu lịch sử vật chất; tư liệu lịch sử truyền miệng dân gian; tư liệu lịch sử ngôn ngữ học; tư liệu lịch sử dân tộc học; tư liệu lịch sử tranh ảnh, phim ảnh, ghi âm, ghi hình. Mỗi nguồn tư liệu lịch sử đều có khả năng phản ánh lịch sử địa phương ở những góc cạnh khác nhau và đem lại độ tin cậy nhất định.

Với vai trò đặc biệt quan trọng của tri thức LSĐP, trong những năm qua hoạt động nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy và học tập LSĐP được Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh đối với chương trình phổ thông. Hiệu quả của việc tăng cường khối lượng kiến thức LSĐP trong chương trình sách giáo khoa phổ thông và phương pháp giảng dạy linh hoạt ở mỗi địa phương đã đem lại kết quả khả quan đối với sự hiểu biết về lịch sử đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam.

Tuy nhiên, trong chương trình đào tạo bậc cao đẳng và đại học hầu như tri thức LSĐP chỉ được khai thác phục vụ ngành học về khoa học lịch sử; còn các ngành khác thuộc khối xã hội nhân văn ít chú trọng đến tri thức này trong đó có chuyên ngành đào tạo Hướng dẫn viên du lịch.

2. Tại sao hướng dẫn viên du lịch phải có kiến thức lịch sử địa phương

Trong chương trình đào tạo Hướng dẫn viên du lịch tại các trường cao đẳng và đại học hiện nay, tri thức về lịch sử dân tộc được xác định thuộc khối kiến thức cơ sở ngành và giảng dạy dưới dạng học phần độc lập, hầu như tri thức LSĐP không được chú trọng khai thác để đưa vào bài giảng. Việc giảng dạy LSĐP dưới dạng chuyên đề hoặc lồng ghép vào các môn chuyên ngành như: Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Di sản văn hóa, Hệ thống di tích... rất hạn chế hoặc không có.

Vậy, tri thức về LSĐP có cần thiết đối với nghề HDVDL hay không? Sinh viên theo học ngành HDVDL có cần hiểu biết về LSĐP hay không?

Câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên là HDVDL rất cần tri thức về LSĐP để phục vụ ngành nghề của mình.

HDVDL được giao trọng trách là đại sứ văn hóa một Quốc gia hoặc địa phương và cũng là đại diện cho một công ty lữ hành.

Mỗi nguồn tư liệu LSĐP đều có cách phản ánh khác nhau về lịch sử: có tư liệu phản ánh được những quy luật, nét cơ bản, nét điển hình; có tư liệu chỉ phản ánh được cái riêng, điểm đặc thù. Vì vậy, khi HDVDL giới thiệu cho du khách về một vùng đất hay một điểm tham quan nhất định, HDVDL không thể dùng một tư liệu mà cần phải có kiến thức từ nhiều nguồn tư liệu lịch sử để hướng dẫn khách có nhận định chính xác qua nhiều góc nhìn khác nhau.

Trong quá trình học tập, việc nghiên cứu các nguồn tư liệu lịch sử địa phương sẽ giúp sinh viên du lịch có sự hình dung đa dạng về quá khứ, dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ; tìm hiểu địa danh và sự kiện lịch sử của các điểm tài nguyên du lịch; bên cạnh đó còn có tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, giáo dục đạo đức, gợi mở lòng yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc.

Nếu một HDVDL thiếu vốn kiến thức về LSĐP sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy, điển hình như: bài thuyết minh nghèo thông tin; cung cấp thông tin thiếu chuẩn xác; không có khả năng định hướng và hướng dẫn cho khách du lịch tham gia vào các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, sự kiện lịch sử đang diễn ra ở địa bàn nơi đoàn đến tham quan; lúng túng khi khách đặt câu hỏi liên quan đến sự kiện, hiện vật, nhân vật lịch sử địa phương... những hạn chế trong thuyết minh ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ quy trình phục vụ khách du lịch và hiệu quả công việc của người HDVDL.

Để cải thiện chất lượng HDVDL cho ngành du lịch Việt Nam có rất nhiều công việc cần làm, tuy nhiên trước tiên các cơ sở đào tạo HDVDL và bản thân người làm nghề hướng dẫn viên nên xác định nhiệm vụ ưu tiên khi phục vụ khách du lịch chính là chất lượng nội dung thông tin cung cấp đến khách hàng, HDVDL không chỉ là người cung cấp thông tin tổng quát về một địa phương, mà bằng vốn kiến thức về LSĐP của bản thân sẽ giúp HDVDL tự tin để điều chỉnh những hiểu biết thiếu chuẩn xác của du khách về một vùng đất. Muốn thực hiện được nhiệm vụ trên đòi hỏi các môn học về tài nguyên du lịch trong chương trình đào tạo HDVDL sớm có sự lồng ghép kiến thức LSĐP; bản thân người học và HDVDL đang làm nghề cần tăng cường tự nghiên cứu tài liệu, tự tìm hiểu trên thực địa để tích lũy nhiều hơn nguồn tri thức dồi dào này.

III. KẾT LUẬN

Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của ngành kinh doanh du lịch. Đội ngũ nhân viên du lịch nói chung và đội ngũ HDVDL nói riêng được đào tạo với chất lượng cao, thành thạo ngoại ngữ, có kiến thức sâu rộng về lịch sử - văn hóa dân tộc, đáp ứng các tiêu chí tuyển dụng của doanh nghiệp lữ hành sẽ là chìa khóa vàng cho người lao động mở cánh cửa bước vào nghề. Sở hữu đội ngũ HDVDL lành nghề cũng là nhân tố quyết định uy tín, thương hiệu, chất lượng sản phẩm du lịch của doanh nghiệp lữ hành; góp phần xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Trung Kiên (2008), Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

2. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2009), Phương pháp luận sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

3. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (1999), Nhập môn sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

4. Đồng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình (2001), Kinh tế du lịch và du lịch học, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.

5. Nghị quyết số 29-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, ký ngày 4/11/2013.

---

*Quy định tiêu chuẩn hướng dẫn viên du lịch tại Việt Nam: [Tổng cục Du lịch Việt Nam](https://tourism.gov.vn)*