1. MỞ ĐẦU

Theo dự báo từ các nhà khoa học, đại dịch Covid-19 sẽ còn diễn biến phức tạp trong thời gian tới, như vậy các ngành kinh tế trong đó có du lịch sẽ buộc phải thay đổi theo hướng sống chung với đại dịch Covid-19. Sau đại dịch xu hướng của khách du lịch quốc tế, nhất là khách đến từ các nước châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan đến Việt Nam có xu hướng chọn tour, khách sạn, khu du lịch và các dịch vụ, hàng hóa có tính bền vững, có nhãn sinh thái, thân thiện với môi trường. Du khách coi trọng chuyến đi đến những nơi an toàn và có lợi cho sức khỏe, gần gũi với thiên nhiên. Trong bối cảnh này ngành Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch vùng ĐBSCL nói riêng cần xác định phát triển du lịch xanh là nhiệm vụ cấp bách. Từ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2022-2023 của Chính phủ, ngành du lịch tập trung hỗ trợ địa phương phát triển sản phẩm du lịch theo hướng “mỗi tỉnh có một sản phẩm du lịch độc đáo”, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển du lịch thông minh và ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch, đẩy mạnh phát triển công nghệ sạch, phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh.

Du lịch xanh đã được nhắc đến từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20, nhưng những năm gần đây mới trở thành trào lưu thu hút sự quan tâm của đông đảo khách du lịch, dự báo do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 thì xu hướng du lịch xanh sẽ trở thành lựa chọn ưu tiên của khách du lịch. Loại hình du lịch xanh không chỉ cho du khách những trải nghiệm gần với thiên nhiên mà còn góp phần nâng cao ý thức của du khách trong việc hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường sống, cùng chung tay bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Trong đó, các “điểm đến xanh” trước hết cần dựa vào thiên nhiên và văn hóa. Thực tế, việc xây dựng những “điểm đến xanh” đã được thực hiện gắn với phát triển các sản phẩm du lịch xanh nhất là du lịch sinh thái, du lịch sinh thái cộng đồng gắn với các hoạt động như nghỉ dưỡng núi, thưởng thức ẩm thực và tìm hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số, thăm vườn quốc gia, tìm hiểu hệ động thực vật, đi thuyền khám phá cảnh quan thiên nhiên... Đây là những cơ sở làm tiền đề để kết nối các “điểm đến xanh” nhằm thu hút du khách và từng bước khôi phục hoạt động du lịch.

Trên đây là những cơ sở vững chắc để vùng ĐBSCL đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện sản phẩm du lịch xanh để thích ứng với tình hình mới. Vùng ĐBSCL có vị trí thuận lợi cho việc thu hút khách du lịch, thuận lợi trong liên kết tuyến du lịch với vùng Đông Nam bộ và hai nước Campuchia, Thái Lan. Vùng ĐBSCL là vùng kinh tế, văn hóa, chính trị đặc biệt quan trọng của khu vực phía Nam, có nhiều tiềm năng du lịch đặc sắc. Các sản phẩm du lịch nổi bật xưa nay của vùng ĐBSCL đều gắn liền với thiên nhiên, đây là lợi thế vượt trội để phát triển du lịch xanh; khi khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên của vùng ĐBSCL theo hướng bảo tồn sẽ là giải pháp tốt nhất để làm nên thương hiệu vùng và đảm bảo tương lai bền vững cho ngành du lịch vùng.

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong bài viết này là phương pháp tổng hợp, phân tích và đánh giá. Nguồn tài liệu thứ cấp được tổng hợp từ các tổ chức trong nước và ngoài nước gồm: Tổ chức Du lịch Thế giới, Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện nghiên cứu và phát triển du lịch, Hiệp hội du lịch Đồng bằng sông Cửu Long, các địa phương và một số công trình khoa học và bài báo liên quan.

2. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH XANH

2.1. Cơ sở lý thuyết về du lịch xanh

Khái niệm “Du lịch xanh” đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức nào về du lịch xanh được đưa ra làm cơ sở lý luận chung cho ngành Du lịch trên thế giới.

Năm 1992, Chính phủ Nhật Bản xác định “Du lịch xanh là hoạt động giải trí để tận hưởng thiên nhiên và văn hóa các điểm đến du lịch và tương tác với người dân địa phương ở các vùng nông thôn có phong cảnh thiên nhiên phong phú”. Còn theo Chương trình nghị sự 21 về Du lịch: Hướng tới phát triển bền vững về môi trường thì “Du lịch xanh” là hướng tiếp cận tích cực đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững. Du lịch xanh còn được coi là chìa khóa để phát triển du lịch bền vững (Trần Hữu Ái, Ngô Xuân Hào, 2021).

Theo nhà nghiên cứu Phạm Trung Lương, du lịch xanh được hiểu là “Hình thức phát triển du lịch thân thiện với môi trường trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc: Thứ nhất, sử dụng hợp lý các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên cho nhu cầu phát triển du lịch; Thứ hai, hạn chế tác động từ hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên; Thứ ba, ưu tiên phát triển các loại hình sản phẩm du lịch có trách nhiệm với môi trường tự nhiên mà trọng tâm là du lịch sinh thái” (Phạm Trung Lương, 2015).

Như vậy, vấn đề cốt lõi của phát triển du lịch theo hướng xanh là xây dựng sản phẩm du lịch xanh — nghĩa là sản phẩm du lịch đảm bảo tính thân thiện với môi trường và con người, tiết kiệm tài nguyên du lịch. Để đảm bảo là sản phẩm xanh cần đạt các tiêu chí: sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường; sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đối với môi trường và sức khỏe; sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng; sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khỏe. Ngành du lịch mang đặc thù là ngành kinh tế tổng hợp, sản phẩm du lịch là sự nối kết từ nhiều dịch vụ và hàng hóa, do đó khi đề cập phát triển sản phẩm du lịch xanh nghĩa là tất cả các dịch vụ, hàng hóa cấu thành sản phẩm du lịch trong bốn lĩnh vực kinh doanh gồm dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận tải du lịch, dịch vụ lưu trú, dịch vụ du lịch khác đều phải đạt được nội dung cơ bản của các tiêu chí trên. Mức độ “xanh” của một sản phẩm du lịch sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ thân thiện môi trường của những yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến tính chất tham gia vào việc hình thành nên sản phẩm du lịch.

2.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch xanh ở một số quốc gia Châu Á

Hiện nay du lịch xanh là xu hướng được các nước trên thế giới quan tâm trong đó ở Châu Á có một số nước đã áp dụng loại hình du lịch xanh và có những thành công nhất định. Trong khuôn khổ bài viết này, nhóm tác giả giới thiệu kinh nghiệm phát triển du lịch xanh ở một số quốc gia châu Á như Singapore, Thái Lan, Trung Quốc và Hàn Quốc.

#### Bài học kinh nghiệm từ Singapore

Singapore là một quốc gia hạn chế về tài nguyên du lịch tuy nhiên ngay từ thời điểm bắt đầu phát triển du lịch, chính phủ Singapore đã định hướng tạo ra màu xanh trong ngành du lịch bằng cách trồng cây xanh khắp nơi, thậm chí trồng cả cây xanh nhân tạo. Chính phủ đã hoạch định những chiến lược, xây dựng chính sách và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn.

Năm 1986, với “Kế hoạch phát triển du lịch”, Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa: Khu phố của người Hoa, Tanjong Pagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore.

Năm 1993, với “Kế hoạch Phát triển chiến lược”, Singapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật, phát triển các thị trường du lịch mới, tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế, tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch, trao các giải thưởng về du lịch, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch, trong đó chú trọng đến phát triển du lịch xanh.

Năm 1996, triển khai kế hoạch “Du lịch 21”, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.

Trong hai kế hoạch phát triển du lịch gần đây nhất của Singapore là “Du lịch 2015” và “Địa giới du lịch 2025”, tập trung phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp... Từ năm 2015, Singapore đã chi hàng tỷ đô la Singapore cho Quỹ phát triển du lịch, đặc biệt là cho phát triển du lịch xanh. Một ví dụ tiêu biểu, vườn cây Garden By the Bay đã trồng hệ thống cây xanh cao từ 22 - 50 m, có khả năng tổng hợp năng lượng mặt trời, nhận nước mưa, lọc không khí và có hệ thống quang điện để chuyển ánh sáng mặt trời thành năng lượng điện. Vườn cây này ngay khi được khai trương đã thu hút hàng triệu lượt khách tham quan mỗi năm, nhanh chóng trở thành điểm đến hấp dẫn của Singapore. Những chính sách phát triển như trên đã giúp ngành du lịch của Singapore phát triển theo hướng du lịch xanh và đạt được những kết quả to lớn mà nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới cần học hỏi.

#### Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan

Thái Lan là điểm đến du lịch hấp dẫn của châu Á, luôn dẫn đầu trong khu vực Đông Nam Á về những ý tưởng làm du lịch xanh. Tháng 5/2012, Thái Lan được trao giải thưởng của Tổ chức Du lịch Lữ hành châu Á - Thái Bình Dương (PATA) cho chiến dịch “7 Green Tourism”, đó là: Tâm xanh - Vận chuyển xanh - Điểm đến xanh - Cộng đồng xanh - Hoạt động xanh - Dịch vụ xanh - Phương pháp tiếp cận xanh vượt trội. Trong chiến dịch này, Ủy ban Du lịch Thái Lan nâng cao nhận thức về du lịch xanh cho tất cả các thành phần tham gia du lịch, từ các hãng lữ hành, khách sạn, nhà hàng, các điểm vui chơi đến khách du lịch (Thanh Lê, 2019).

Từ năm 2017, Thái Lan xây dựng Kế hoạch phát triển du lịch lần 2 giai đoạn 2017-2021 chủ trương phát triển du lịch xanh. Kế hoạch này tập trung vào 5 chiến lược, đó là: (1) Phát triển các điểm du lịch, sản phẩm và dịch vụ theo hướng khuyến khích phát triển bền vững, thân thiện và bảo vệ môi trường; (2) Chiến lược hướng đến các tiện ích về giao thông, cơ sở vật chất cho khách du lịch, an toàn và an ninh cho du khách, cải thiện cơ sở hạ tầng mà không gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng, môi trường địa phương; (3) Nâng cao nhận thức du lịch nguồn nhân lực du lịch và người dân Thái Lan thông qua đào tạo; (4) Tạo sự cân bằng giữa các nhóm mục tiêu du lịch thông qua tiếp thị. Chiến lược tập trung vào cải thiện thương hiệu du lịch Thái Lan trở thành điểm đến chất lượng; (5) Tổ chức hợp tác và hội nhập giữa các khu vực công và khu vực tư nhân trong phát triển và quản lý du lịch, bao gồm hợp tác quốc tế.

Đặc biệt là Thái Lan là quốc gia đi đầu trong việc đẩy mạnh phát triển du lịch nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các chương trình du lịch xanh Thái Lan dựa trên cơ sở quan điểm về “nền nông nghiệp xanh tiết kiệm và không có rác thải” để hình thành các “thành phố hữu cơ” với trọng tâm là du lịch xanh, nông nghiệp xanh. Kết quả Thái Lan đã tạo ra những sản phẩm du lịch xanh tiêu biểu du lịch sinh thái, du lịch nông trại và du lịch nông nghiệp. Sáu tỉnh Chieang Mai, Nong Khai, Si Sa Ket, Chanthaburi, Phatthalung, Ratchaburi đã được lựa chọn phát triển thành “những đô thị nông nghiệp xanh”.

#### Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc

Phát triển kinh tế xanh ngày càng được Trung Quốc chú trọng, thể hiện qua các Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015) được coi là bản kế hoạch xanh nhất trong lịch sử các kế hoạch 5 năm về phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc, dành riêng một chương về phát triển kinh tế xanh. Kế hoạch đã xây dựng các mục tiêu kinh tế tới năm 2015, trong đó khoảng 1/3 mục tiêu là các vấn đề tài nguyên thiên nhiên, môi trường, phát triển bền vững, đồng thời đưa ra các hành động bao gồm đầu tư vào quản lý tài nguyên thiên nhiên, với mục tiêu tạo ra một triệu việc làm mới trong lâm nghiệp và giảm nghèo nông thôn. Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 (2016-2020) đưa ra quan điểm phát triển “đổi mới, phối hợp, xanh, cởi mở và chia sẻ” để đảm bảo thịnh vượng trong mọi mặt của xã hội. Một trong những mục tiêu của kế hoạch là cải thiện chất lượng môi trường và hệ sinh thái, đồng thời đặt ra một số chỉ tiêu về nâng cao chất lượng không khí, tăng diện tích che phủ rừng, tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng sạch... Đây cũng là lần đầu tiên nội dung “tăng cường xây dựng văn minh sinh thái” được đưa vào kế hoạch 5 năm, nhấn mạnh tầm quan trọng của khái niệm tăng trưởng xanh và vai trò trong công cuộc phát triển bền vững (C. Tang, Q. Zheng, N. Qin, Y. Sun, S. Wang, và L. Feng, 2017).

Trong tháng 7/2020, Trung Quốc đã thành lập Quỹ Phát triển Xanh Quốc gia, một bước hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế về bảo vệ sinh thái và môi trường (Seetao, 2020). Đây là Quỹ đầu tư cấp quốc gia của Chính phủ, thuộc sự quản lý của Bộ Tài chính và Bộ Sinh thái và Môi trường. Tuy các chính sách tăng trưởng xanh mới chỉ được triển khai tích cực trong những năm gần đây, Trung Quốc đã nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của kinh tế xanh trong phát triển quốc gia và có các cơ chế phối hợp hiệu quả để đưa ra các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu.

#### Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc

Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu trong các sáng kiến và thực hành về tăng trưởng xanh và kinh tế xanh. Năm 2020, Hàn Quốc đã tuyên bố “Tăng trưởng Xanh Carbon Thấp” trở thành tầm nhìn quốc gia mới. Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng Xanh (2009-2050) có ba mục tiêu chính: (1) Tạo các động lực tăng trưởng mới thân thiện với môi trường; (2) Nâng cao chất lượng cuộc sống; và (3) Đóng góp vào các nỗ lực quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu. Các Kế hoạch 5 năm đã vạch ra hành động của Chính phủ để thực hiện chiến lược, cũng như nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ ngành, cơ quan quản lý địa phương và phân bổ ngân sách. Chính phủ sử dụng khoảng 2% GDP hàng năm như gói “kinh phí xanh” cho các chương trình và dự án tăng trưởng xanh (tổng kinh phí khoảng 86 tỷ USD cho cả giai đoạn), đồng thời đầu tư gói kích thích trị giá 38,5 tỷ USD cho Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm hỗ trợ các nguồn năng lượng tái tạo, mở rộng hệ thống đường sắt, cải thiện quản lý chất thải để tạo việc làm trong lĩnh vực xanh, giảm phát thải nhà kính... Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (2014-2018) đưa ra khái niệm “kinh tế sáng tạo” và các chính sách tăng trưởng xanh được sửa đổi thành “các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu sau Hiệp định Paris 2015”. Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (2019-2023) đã đưa ra một tầm nhìn mới cho “Đất nước Xanh Toàn diện”. Chính vì vậy, bên cạnh một số kết quả tích cực mà Chiến lược Tăng trưởng Xanh Carbon Thấp đem đến cho tăng trưởng xanh của Hàn Quốc, chính sách không nhất quán cũng mang lại số kết quả không mong đợi như: Phát thải khí nhà kính tiếp tục tăng, ô nhiễm không khí thải ra từ các ngành công nghiệp nặng, năng lượng chính được sử dụng vẫn là nhiên liệu hóa thạch, phương tiện đường bộ tiếp tục là hình thức đi lại chủ yếu (OECD, 2017).

3. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH XANH TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Du lịch ĐBSCL, gắn với thương hiệu “Miệt vườn sông nước” và “Văn hóa thương hồ”, luôn tạo sức hấp dẫn đặc biệt với các nhà đầu tư du lịch cũng như du khách. Với vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ, đường hàng không và đường thủy, từ trung tâm du lịch của vùng là thành phố Cần Thơ tỏa ra bốn hướng là các điểm tài nguyên du lịch độc đáo. Hướng Bắc là tài nguyên du lịch miệt vườn trên bốn nhánh sông với những loài cây trái hấp dẫn, làng nghề truyền thống gắn liền các địa phương: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long; hướng Tây là vùng văn hóa cổ Óc Eo, tín ngưỡng thờ mẫu, sinh thái mùa nước nổi, sinh thái biển đảo với các điểm đến tiêu biểu là Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang; phía Đông gây ấn tượng bởi giá trị văn hóa của người Khmer qua các ngôi chùa và đặc biệt là nghệ thuật Đờn ca tài tử với điểm đến tiêu biểu gồm: Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu; xuôi về phương Nam là vùng đất trẻ Cà Mau cuốn khách du lịch theo nhịp sống rộn ràng trên những bãi bồi ven biển và khám phá hệ sinh thái rừng ngập mặn thẳng cánh cò bay.

Vùng du lịch (VDL) ĐBSCL chứa đựng cả hai nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn tạo nên sắc riêng khá mạnh so với tài nguyên du lịch của sáu VDL còn lại ở Việt Nam. Trong đó, tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu có Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), rừng tràm Trà Sư (An Giang), khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng (Hậu Giang), vườn cò Bằng Lăng (thành phố Cần Thơ), vườn cò Tân Long (Sóc Trăng), rừng U Minh (Kiên Giang và Cà Mau)... Bên cạnh đó vùng ĐBSCL có hơn 700 km bờ biển và hơn 145 hòn đảo lớn, nhỏ và nhiều bãi tắm đẹp, hoang sơ: Mũi Nai, Hòn Chông (Kiên Giang), Hòn Khoai (Cà Mau), Ba Động (Trà Vinh)... Trong đó, nổi tiếng nhất là đảo Phú Quốc (Kiên Giang), hay còn gọi là đảo Ngọc với một vẻ đẹp hoang sơ, cùng với nhiều tài nguyên thiên nhiên hiếm có, được các hãng lữ hành đánh giá là nơi có nhiều tiềm năng và lợi thế lớn để trở thành “thiên đường du lịch” đủ sức hấp dẫn du khách như hòn đảo Bali (Indonesia). Đặc biệt, vùng còn sở hữu hai trong số 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới được tổ chức UNESCO công nhận tại Việt Nam gồm: Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang (được công nhận năm 2006), Khu dự trữ sinh quyển mũi Cà Mau (được công nhận năm 2009). Như vậy, xét về mặt tài nguyên du lịch thì VDL ĐBSCL có thế mạnh về điểm đến gắn với thiên nhiên hoang sơ và cần thiết phải phát triển du lịch theo hướng du lịch bền vững, du lịch xanh.

Xét về góc độ quản lý nhà nước và định hướng phát triển VDL ĐBSCL, trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chính phủ đã định hướng xây dựng bốn sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng du lịch ĐBSCL, cụ thể: Du lịch sinh thái, văn hóa sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng và sinh thái biển, du lịch MICE (Thủ tướng Chính phủ, 2011). Quan điểm chung của Chính phủ thể hiện trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030: Phát triển du lịch bền vững và bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hóa sự đóng góp của du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Như vậy, quan điểm chung của Chính phủ đối với việc phát triển ngành du lịch Việt Nam là coi trọng yếu tố bền vững và du lịch xanh; do đó, với vị thế là một trong bảy VDL của Việt Nam thì ĐBSCL cũng định hướng phát triển theo xu thế chung của cả nước đó là ưu tiên du lịch xanh.

VDL ĐBSCL có đầy đủ căn cứ để phát triển du lịch xanh, tập trung vào bốn thế mạnh sau đây.

Thứ nhất, hệ sinh thái đa dạng và đặc sắc, từ hệ sinh thái biển, đảo, cửa sông, đất ngập nước, rừng ngập mặn, cù lao châu thổ, với nhiều khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên có tính đa dạng sinh học cao, thuộc hàng quý hiếm trên thế giới. Đây là những tài nguyên rất quý giá cho phát triển du lịch sinh thái.

Thứ hai, VDL ĐBSCL nằm ở hạ lưu sông Mekong, con sông lớn nhất Đông Nam Á đổ vào vùng với hai nhánh chính sông Tiền và sông Hậu tạo ra hệ sinh thái đồng bằng lớn nhất Việt Nam. ĐBSCL có mạng lưới sông ngòi kênh rạch chằng chịt, được mệnh danh là “thế giới sông nước”, thuận tiện cho việc phát triển loại hình du lịch bằng tàu, ghe để trải nghiệm cuộc sống của người dân miền sông nước.

Thứ ba, VDL ĐBSCL không ngừng nâng cấp cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đáp ứng được nhu cầu khách có khả năng chi trả cao, tiêu biểu như: hệ thống resort và khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao tại thành phố Phú Quốc, thành phố Cần Thơ, thành phố Cà Mau... Bên cạnh đó, các đường bay nội địa, quốc tế với vùng này cũng tăng đáng kể như đường bay Phú Quốc - Singapore, Phú Quốc - Siêm Riệp (Campuchia), các tuyến bay nội địa kết nối những trung tâm du lịch lớn của cả nước: Cần Thơ - Đà Nẵng, Cần Thơ - Tân Sơn Nhất (Hồ Chí Minh), Cần Thơ - Liên Khương (Lâm Đồng), Phú Quốc - Tân Sơn Nhất (Hồ Chí Minh), Phú Quốc - Cam Ranh (Khánh Hòa), Phú Quốc - Liên Khương (Lâm Đồng)... Ngoài ra, các địa phương An Giang, Kiên Giang thu hút du lịch bằng việc đầu tư dự án cáp treo, tỉnh Bạc Liêu xây dựng khu lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Nhà hát Ba Nón Lá, khu du lịch Nhà Mát, cánh đồng điện gió... Hầu hết các địa phương trong vùng đều ưu tiên dự án đầu tư phát triển ngành du lịch với phương châm phát huy thế mạnh tiềm năng riêng.

Thứ tư, tiềm năng du lịch văn hóa rất phong phú hấp dẫn du khách với những phiên chợ nổi: Cái Răng (Cần Thơ), Phụng Hiệp (Hậu Giang), Cái Bè (Tiền Giang), Ngã Năm (Sóc Trăng), hay những cù lao thiên nhiên trong lành như cồn Phụng, cồn Ốc, cồn Quy (Bến Tre), cồn Tiên (Đồng Tháp), cồn Mỹ Phước (Sóc Trăng), cồn Thới Sơn (Tiền Giang)... cũng là một nét đẹp rất đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ. Bên cạnh đó, trên vùng đất của gần 18 triệu dân này có sự cộng cư lâu đời của bốn dân tộc Kinh, Hoa, Khmer và Chăm chứa đựng một bề dày văn hóa tín ngưỡng, tâm linh đặc sắc. Vùng sở hữu hàng trăm lễ hội lớn nhỏ, hàng ngàn kiến trúc tôn giáo lâu đời đã được các hãng lữ hành đưa vào sản phẩm phục vụ khách hàng. ĐBSCL còn là nơi thực hành và phát triển loại hình nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO công nhận được thể hiện qua giọng ca của các “tài tử miệt vườn” khiến du khách có cảm giác thích thú, có tính khám phá và khó quên. Ngoài ra du lịch tâm linh cũng rất phát triển: núi Bà, Châu Đốc (tỉnh An Giang), Phật Quan Âm Nam Hải (Bạc Liêu).

Những ưu thế về tài nguyên thiên nhiên phong phú, kết hợp văn hóa đặc trưng của miền đất và con người phương Nam, văn hóa, lịch sử đã tạo nên một nền văn hóa ĐBSCL đa bản sắc, đậm chất phương Đông, góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch đa dạng và đặc thù gắn liền với giá trị xanh. Tài nguyên du lịch vượt trội, chính sách ưu tiên phát triển du lịch và hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại là cơ sở vững chắc để VDL ĐBSCL trở thành điểm đến du lịch xanh của thế kỷ 21.

4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH XANH TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Quyết định số 147-QĐ/TTg ngày 22/1/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030” đã xác định: Tập trung phát triển sản phẩm du lịch có chất lượng, đa dạng, khác biệt, có giá trị gia tăng cao và tăng trải nghiệm cho khách du lịch dựa trên lợi thế về tài nguyên của từng vùng, địa phương, phù hợp với nhu cầu thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Cùng với đó, phát triển mạnh các sản phẩm du lịch chủ đạo, có lợi thế của du lịch Việt Nam gắn với các khu vực động lực phát triển du lịch: Ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo và du lịch thể thao, giải trí biển phù hợp định hướng Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam (Thủ tướng Chính phủ, 2020)... Từ những bài học kinh nghiệm và tiềm năng du lịch của vùng, nhóm tác giả đề xuất các địa phương tập trung một số giải pháp nhằm phát triển du lịch xanh tại vùng ĐBSCL như sau.

Một là, nâng cao nhận thức trong việc phát triển thương hiệu du lịch xanh cho các bên tham gia trong hoạt động kinh doanh du lịch. Quá trình triển khai kế hoạch phát triển du lịch xanh cần xây dựng ngay nhận thức của những người làm trong công tác quản lý, cần có sự đồng nhất, hợp sức xây dựng và thể hiện hình ảnh, thông điệp nhất quán về thương hiệu du lịch xanh. Các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng dân cư địa phương là những người làm chủ các tài sản, các giá trị du lịch, là người tiếp nhận khách du lịch, họ có vai trò rất tích cực trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu vùng.

Hai là, tổ chức công tác xúc tiến quảng bá du lịch xanh trên cơ sở ứng dụng công nghệ 4.0. Để triển khai thực hiện quảng bá thương hiệu du lịch vùng gắn với du lịch xanh, các địa phương cần liên kết, thống nhất trong hoạt động xúc tiến quảng bá. Thống nhất xây dựng và sử dụng logo, slogan du lịch xanh đồng bộ cho các địa phương trong vùng. Các địa phương có sự tương đồng về dòng sản phẩm cần tham gia chung các hoạt động xúc tiến thị trường. Thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp sử dụng logo, slogan của địa phương khi triển khai sản phẩm du lịch xanh. Ưu tiên ứng dụng công nghệ 4.0 trong quảng bá xúc tiến du lịch xanh thông qua một số ứng dụng như trang thương mại điện tử (dự án Super Selfie và #WhyVietNam - https://whyvietnam.com/), Cổng thông tin Du lịch thông minh, các video marketing trên nền tảng mạng xã hội (facebook, tiktok, instagram, youtube...), du lịch thực tế.

Ba là, xây dựng bộ tiêu chí kiểm soát chất lượng sản phẩm du lịch xanh đảm bảo trách nhiệm với xã hội và môi trường. Doanh nghiệp kinh doanh thực hiện du lịch có trách nhiệm, xây dựng và làm mới sản phẩm du lịch, nâng chất lượng dịch vụ, có chiến lược phù hợp với các thị trường khách, hướng dẫn du khách bảo vệ môi trường khi tham gia trải nghiệm là những giải pháp cần được các địa phương quan tâm và triển khai đồng bộ. Quản lý chất lượng sản phẩm du lịch là cách để phát triển và quảng bá thương hiệu, góp phần tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động du lịch.

Bốn là, phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ du lịch trong vùng. Việc đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gắn với sử dụng năng lượng xanh.

Năm là, xây dựng tuyến du lịch xanh nội vùng và liên vùng.

VDL ĐBSCL nên tập trung khai thác hai tuyến du lịch sinh thái và văn hóa thương hồ nội vùng dọc theo sông Tiền và sông Hậu: tuyến sông Tiền (Đồng Tháp - Vĩnh Long - Tiền Giang - Bến Tre - Trà Vinh), tuyến sông Hậu (An Giang - Đồng Tháp - Cần Thơ - Vĩnh Long - Trà Vinh - Sóc Trăng).

Tuyến du lịch tâm linh trên cơ sở khai thác điểm đến tín ngưỡng thờ Mẫu, thánh đường Hồi giáo, văn hóa Óc Eo, Công giáo và Phật giáo: tuyến An Giang - Đồng Tháp - Cần Thơ - Bạc Liêu - Sóc Trăng - Trà Vinh.

Tuyến liên vùng khai thác tài nguyên du lịch Việt Nam - Campuchia và Việt Nam - Thái Lan: tuyến Kiên Giang (Việt Nam) - Kampot - Phnom Penh - Siem Reap.

5. KẾT LUẬN

Phát triển du lịch xanh tại VDL ĐBSCL là xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện nay khi ngành du lịch Việt Nam và thế giới ngày càng chú trọng đến việc bảo tồn tài nguyên du lịch, khi khách du lịch hướng tới việc lựa chọn sản phẩm du lịch an toàn và có lợi cho sức khỏe. Bên cạnh đó thế mạnh về tài nguyên du lịch cho phép VDL ĐBSCL có thể xây dựng những sản phẩm du lịch xanh vượt trội có sức cạnh tranh cao trong nước và khu vực. Phát triển du lịch xanh tại VDL ĐBSCL là giải pháp góp phần khai thác du lịch bền vững của vùng và đảm bảo các mục tiêu của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.