1. Đặt vấn đề

Thời gian qua, dưới sự tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), ngành du lịch toàn cầu đứng trước xu hướng đòi hỏi phải đổi mới, ưu tiên chuyển đổi số trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh thuộc ngành kinh tế du lịch. Việt Nam là một trong những quốc gia chủ động ban hành các chủ trương, chính sách để tận dụng những cơ hội đổi mới ngành du lịch từ cuộc CMCN 4.0, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong phát triển du lịch và có những thành tựu đáng kể trong quá trình phát triển du lịch thông minh.

Theo báo cáo Digital 2020 toàn cầu vừa được We Are Social và Hootsuite phối hợp công bố, hơn 4,5 tỷ người trên thế giới đang sử dụng Internet vào đầu năm 2020, lượng người dùng phương tiện truyền thông, mạng xã hội đã vượt qua mốc 3,8 tỷ (Kepios, 2020). Với khoảng 60% dân số thế giới đã biết sử dụng Internet cho thấy các phương tiện truyền thông kỹ thuật, di động và mạng xã hội đã trở thành phương tiện không thể thiếu đối với con người. Ở Việt Nam với 96,9 triệu dân thì có đến 63,99 triệu người sử dụng internet (chiếm 97% dân số), 55 triệu người dùng mạng xã hội (chiếm 57%), 94% dân số dùng điện thoại di động, trong đó có 93% dân số sử dụng điện thoại di động thông minh, 65% sử dụng máy tính để bàn hoặc laptop, 32% sử dụng máy tính bảng. Điều này cho thấy, tỷ lệ người dân sử dụng internet và thiết bị thông minh trên thế giới và ở Việt Nam là rất lớn. (Cộng đồng Digital Marketing Việt Nam, 2020).

Có thể thấy, trong xu thế chung, ngành Du lịch đang tận dụng tối đa của công nghệ số chủ động tiếp cận và đổi mới phương thức xúc tiến quảng bá trở nên đa dạng hơn, làm thay đổi phương thức đi du lịch, trải nghiệm của du khách. Đây là yếu tố quan trọng để Việt Nam phát triển du lịch thông minh trên nền tảng số hóa theo định hướng Quyết định số 1671/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/11/2018 về việc: Phê duyệt "Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2025" đã nêu rõ, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh, chủ động đáp ứng nhu cầu đặc thù, chuyên biệt của thị trường khách du lịch, hỗ trợ doanh nghiệp du lịch kết nối hiệu quả với các chủ thể liên quan, tạo môi trường cho cộng đồng, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo phù hợp với xu hướng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đáp ứng yêu cầu về đổi mới phương thức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam.

Từ năm 2015 đến năm 2019, ngành Du lịch Việt Nam có sự phát triển vượt bậc. Đóng góp trực tiếp của du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP): năm 2015 là 6,3%, đến năm 2019 là 9%, tăng 2,9 điểm phần trăm. Số lượng khách du lịch năm sau luôn tăng so với năm trước, theo các báo cáo thường niên của Tổng cục Du lịch Việt Nam, lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2019 đạt 18 triệu lượt, tăng 16% so với năm 2018; khách nội địa đạt 85 triệu lượt, tăng 6%. Trong 3 năm liên tục từ 2017 đến 2019, lượng khách quốc tế tăng bình quân là 21,6% và lượng khách du lịch nội địa tăng bình quân là 11,1% năm. Sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua là kết quả của việc triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị xác định mục tiêu “Đến năm 2020, ngành Du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực” (Bộ Chính trị, 2017). Tuy nhiên, thực trạng ngành Du lịch Việt Nam đang tồn tại một số vấn đề bất cập về chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, môi trường kinh doanh, công tác xúc tiến, quảng bá, chậm chuyển đổi số... Vì vậy cần thiết phải đẩy nhanh ứng dụng công nghệ số giúp ngành du lịch chuyển hướng sang du lịch thông minh.

Từ thực trạng phát triển của Du lịch Việt Nam và bối cảnh ngành du lịch toàn cầu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch, xác định một trong năm mục tiêu cụ thể đến năm 2020: “Cải thiện các chỉ số năng lực cạnh tranh của ngành du lịch về nhu cầu tìm kiếm thông tin số của du lịch Việt Nam lên ít nhất 2 bậc và hiệu quả công tác xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam lên ít nhất 25 bậc so với đánh giá năm 2017 của Diễn đàn Kinh tế thế giới” (Thủ tướng Chính phủ, 2018).

Như vậy, phát triển ngành Du lịch Việt Nam theo hướng du lịch thông minh trên cơ sở ứng dụng thành tựu công nghệ 4.0 là xu thế tất yếu; yêu cầu cấp thiết đề ra là ứng dụng công nghệ số trong xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch Việt Nam. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để có cơ sở lý luận chuẩn xác về công nghệ số, phương pháp phân tích và đánh giá dữ liệu thứ cấp từ các nguồn đã được xác thực: Bộ Chính trị, Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê... các công trình khoa học, bài viết liên quan đến nội dung nghiên cứu; từ đó xác định một số xu hướng ứng dụng công nghệ số trong xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch và định hướng giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong xúc tiến, quảng bá Du lịch Việt Nam.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Ảnh hưởng CMCN 4.0 đến truyền thông trong kinh doanh

Cuộc CMCN 4.0 xuất phát từ Đức, là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, công nghệ số (số hóa) và sinh học. Năm 2011, khái niệm “Công nghiệp 4.0” hay “nhà máy thông minh” được nêu lên lần đầu tại Hội chợ công nghiệp Hannover tổ chức ở Cộng hòa Liên bang Đức, phạm trù này đề cập đến việc thông minh hóa quá trình sản xuất và quản lý trong ngành công nghiệp chế tạo. Sự ra đời của Công nghiệp 4.0 tại Đức đã nhanh chóng lan sang các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ và thúc đẩy phát triển các chương trình tương tự nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh.

Năm 2013, trong một báo cáo của chính phủ Đức xuất hiện từ khóa mới là “Industrie 4.0” (Công nghiệp 4.0), nội dung đề cập đến chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người.

Ngày 19/01/2016, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF - World Economic Forum) lần thứ 46 tổ chức ở thành phố Davos-Closters tại Thụy Sĩ, với chủ đề “Cuộc CMCN lần thứ 4”. Giáo sư Klaus Schwab - Chủ tịch WEF đề ra một định nghĩa mới, mở rộng hơn khái niệm Công nghiệp 4.0 của Đức.

Mục tiêu của diễn đàn lần thứ 46 là xây dựng một nhận thức chung đổi mới nhờ thay đổi nhanh chóng về hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới do sự tác động sâu sắc từ CMCN lần thứ tư.

Công nghệ số cho phép nhà kinh doanh du lịch có thêm nhiều công cụ mới để sáng tạo những sản phẩm du lịch hấp dẫn và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, quảng bá, rút ngắn khoảng cách kết nối với khách du lịch và đối tác; dễ dàng phối hợp trong quản lý và khai thác tài nguyên du lịch giúp phát triển du lịch theo hướng bền vững. Ứng dụng công nghệ số trở thành một trong những giải pháp quan trọng nhằm mở rộng thị trường du lịch, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch trực tuyến. Cuộc CMCN 4.0 đã làm thay đổi diện mạo ngành du lịch toàn cầu, xuất hiện các xu hướng kinh doanh mới như: du lịch thông minh, du lịch xanh, du lịch thực tế ảo... đặc biệt là sử dụng công nghệ số vào công tác truyền thông, quảng bá sản phẩm và hình ảnh điểm đến du lịch.

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai du lịch thông minh tạo nên điểm nhấn và lợi thế cạnh tranh vượt trội. Châu Âu được đánh giá là có lợi thế và dẫn đầu xu hướng phát triển mới. Nhằm xây dựng hệ thống đồng bộ và thúc đẩy du lịch thông minh, tháng 4/2018, ngành du lịch châu Âu đã phát động cuộc thi bình chọn hai “Kinh đô du lịch thông minh của châu Âu 2019” dành cho những thành phố ứng dụng giải pháp thông minh mới, sáng tạo và toàn diện đáp ứng bốn yêu cầu của du lịch thông minh gồm: dễ tiếp cận, phát triển bền vững, tăng cường số hóa, bảo vệ di sản văn hóa. Ngày du lịch châu Âu (07/11/2018) tổ chức tại Bruxelles (Bỉ), thành phố Helsinki (Phần Lan) và Lyon (Pháp) đã vinh dự nhận danh hiệu này. Ở Trung Đông, Dubai phát triển du lịch thông minh theo hướng tích hợp du lịch với mô hình thành phố thông minh để kết nối du khách với hệ thống tài nguyên; hoàn thiện hệ thống hạ tầng du lịch thông minh với việc công nghệ hóa triệt để các dịch vụ từ khách sạn, nhà hàng, visa, hàng không... Ở châu Á, nhiều điểm đến của Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore đã đầu tư mạnh cho du lịch thông minh như: áp dụng ví điện tử, mã QR (Quick Response code), dùng dấu vân tay để thanh toán dịch vụ, làm thủ tục sân bay, nhận phòng, trải nghiệm du lịch dựa trên công nghệ thực tế ảo...

Trước sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch toàn cầu từ ảnh hưởng của cuộc CMCN 4.0 đòi hỏi ngành du lịch Việt Nam phải có những chuyển mình nhanh chóng. Ngày 04/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc “Tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4”. Trong đó nêu ưu tiên phát triển du lịch thông minh là một giải pháp để chủ động nắm bắt cơ hội và giảm thiểu những tác động tiêu cực của cuộc CMCN lần thứ 4 đối với Việt Nam (Thủ tướng Chính phủ, 2017). Nghị quyết 08-NQ/TW nêu ba khía cạnh ứng dụng khoa học và công nghệ với các hoạt động du lịch, gồm: xúc tiến quảng bá du lịch, đào tạo nguồn nhân lực du lịch và quản lý nhà nước về du lịch (Bộ Chính trị, 2017). Cuộc CMCN 4.0 đã đem đến cho ngành du lịch Việt Nam chuyển mình lớn theo định hướng du lịch thông minh, hiện đại hóa ngành kinh tế du lịch với những kết quả tiêu biểu: cấp thị thực điện tử (e-visa) cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, ứng dụng công nghệ ảnh 360 độ trong du lịch, các chương trình quảng bá du lịch quốc gia “Super Selfie” và #WhyVietNam, tiếp thị trực tuyến, Cổng thông tin du lịch thông minh - VTV travel (dulich.vtv.vn), hệ thống thuyết minh tự động về di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám và phần mềm hướng dẫn tham quan Hoàng thành Thăng Long trên điện thoại di động, xây dựng bản đồ số về du lịch theo công nghệ GIS, số hóa dữ liệu du lịch...

Bên cạnh những ảnh hưởng của cuộc CMCN 4.0 đến ngành du lịch, đại dịch COVID-19 cũng là nguyên nhân lớn đòi hỏi ngành du lịch thế giới phải đổi mới phương thức kinh doanh và phục vụ khách hàng. Từ đầu năm 2020, dịch bệnh COVID-19 đã trở nên nghiêm trọng, đến ngày 11/3/2020 Tổ chức Y tế Thế giới chính thức tuyên bố sự bùng phát của dịch viêm đường hô hấp cấp (COVID-19) là đại dịch toàn cầu. Trước bối cảnh đại dịch, du lịch được dự báo là ngành kinh tế sẽ gánh chịu những tổn thất to lớn; thời gian trước đây ngành du lịch thế giới đã gánh chịu tác động nặng nề và gần như ngay lập tức do bốn đợt dịch bệnh gây nên gồm: dịch Tay chân miệng ở Anh (2001), dịch SARS ở Đông Á và Đông Nam Á (2003), dịch MERS ở Trung Đông, dịch Ebola từ Châu Phi (2014), dịch Virus Zika từ Uganda (2016), vì vậy ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19 sẽ không là ngoại lệ.

Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới, trong 10 tháng đầu năm 2020 lượng khách du lịch quốc tế giảm 72%, riêng Châu Á và Thái Bình Dương là khu vực đầu tiên chịu tác động của đại dịch đã giảm 82% lượng khách đến. Cuộc khủng hoảng này cũng gây rủi ro cho 100 đến 120 triệu việc làm trực tiếp trong lĩnh vực du lịch, ngành du lịch thế giới đang quay lại mốc phát triển của 30 năm về trước (Tổ chức Du lịch Thế giới, 2020).

Ở Việt Nam, từ tháng 3/2020 đã dừng hoạt động đón khách quốc tế và thị trường khách nội địa cũng giảm sút do các đợt giãn cách xã hội trên nhiều địa phương. Do đó, kết quả kinh doanh năm 2020 chỉ đạt 3,8 triệu lượt khách quốc tế, giảm 78,7% so với năm 2019; khách du lịch nội địa cũng giảm gần 50% so với năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2020).

Như vậy, ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến ngành du lịch thế giới và Việt Nam là rất rõ rệt, đại dịch không những làm giảm doanh thu mà còn gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp du lịch và đội ngũ người lao động; đại dịch cũng làm thay đổi thói quen tiêu dùng của khách du lịch, dễ nhận thấy nhất là trào lưu chọn hình thức đi du lịch ảo đang dần hình thành, tìm hiểu điểm đến du lịch và dịch vụ du lịch thông qua các nền tảng xã hội phổ biến như: zalo, facebook, youtube, trang thương mại điện tử... được khách du lịch ưa chuộng hơn các kênh quảng bá truyền thống; những thay đổi từ phía khách hàng đòi hỏi nhà kinh doanh du lịch cần có những giải pháp công nghệ để thích ứng kịp thời.

Qua phân tích bối cảnh hiện nay của ngành du lịch thế giới cho thấy, những thành tựu của cuộc CMCN 4.0 đã tạo tiền đề thuận lợi để ngành du lịch phát triển theo hướng công nghệ hóa, đồng thời đại dịch COVID-19 đã đặt ngành Du lịch vào thế buộc phải chuyển mình, nếu các doanh nghiệp du lịch muốn phát triển tốt cần tăng tốc chuyển đổi số, cơ cấu lại guồng máy hoạt động theo hướng tự động, tập trung hơn vào mảng kinh doanh online và đầu tư phát triển Marketing điện tử (Digital Marketing)...

Ngày nay, ngành Du lịch Việt Nam đang phát triển nhanh và có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu kinh tế quốc gia, đồng thời liên tục mở rộng sự liên kết với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Việt Nam cũng là quốc gia thu hút đầu tư về kinh doanh du lịch từ các tập đoàn uy tín trên thế giới. Đây chính là những điều kiện quan trọng để tăng cường kết nối và hiện đại hóa ngành Du lịch Việt Nam theo hướng du lịch thông minh. Bên cạnh đó, ngành du lịch Việt Nam có lợi thế là hoạt động trên cơ sở hạ tầng viễn thông đã phát triển tương đương trình độ chung của thế giới, sự quan tâm của Nhà nước về ứng dụng công nghệ số vào du lịch với nhiều chính sách kịp thời, tăng cường ký kết hợp tác quốc tế. Hiện nay một số doanh nghiệp du lịch đã chủ động ứng dụng các thành tựu của cuộc CMCN 4.0 để cung cấp dịch vụ cho khách du lịch tại cơ sở lưu trú, doanh nghiệp lữ hành, điểm đến du lịch, thành lập các sàn thương mại điện tử, thiết kế phần mềm quản lý doanh nghiệp và vận hành nghiệp vụ du lịch.

Trong thời gian tới, nếu Việt Nam nắm bắt tốt xu hướng và bản chất của du lịch thông minh, đồng bộ về các nguồn lực, điều chỉnh chính sách pháp lý phù hợp, nâng tầm cơ sở hạ tầng để duy trì kết nối chặt chẽ trên nền tảng số giữa 5 bên gồm cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp du lịch, người lao động trong ngành du lịch, khách du lịch, cộng đồng cư dân địa phương; kết quả sẽ là sự phát triển của du lịch thông minh ở Việt Nam. Phát triển du lịch thông minh sẽ góp phần rất lớn vào việc nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá du lịch thông qua hoạt động tăng cường marketing du lịch trên các nền tảng công nghệ số.

2.2. Các xu hướng ứng dụng công nghệ số trong xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch tại Việt Nam

Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng mạng xã hội như: Facebook, Zalo, Instagram, Whatsapp, Website, ứng dụng (app) để quảng bá, tìm kiếm điểm đến du lịch, sản phẩm du lịch, giá lưu trú, vận chuyển... của khách du lịch cũng như doanh nghiệp kinh doanh du lịch có sự gia tăng nhanh và mạnh. Nhu cầu sử dụng không gian mạng internet để kết nối, trao đổi và thực hiện các giao dịch trực tuyến đã dần trở nên quen thuộc và khá dễ dàng giữa người bán và người mua. Bên cạnh đó, trong bối cảnh chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19, du lịch là một trong những ngành rơi vào khủng hoảng nặng nề nhất, nền tảng quản lý và kinh doanh du lịch truyền thống không đủ khả năng thích ứng nên việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch hiện nay là một trong những yếu tố tiên quyết buộc ngành du lịch phải tập trung thực hiện, vừa phù hợp với bối cảnh hiện tại, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc CMCN 4.0. Để giải quyết các nhu cầu của khách du lịch và nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá du lịch tại Việt Nam, đòi hỏi cơ quan Nhà nước quản lý về du lịch trung ương và địa phương, doanh nghiệp du lịch phải tận dụng tối đa hóa công nghệ số trong công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch.

Trong những năm gần đây, ngành Du lịch Việt Nam đã ứng dụng 4 nền tảng công nghệ chủ yếu đã đem lại những hiệu quả nhất định trong xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch.

#### 2.2.1. Trang thương mại điện tử

Tổng cục Du lịch đã đầu tư phát triển các ứng dụng công nghệ trong tiếp thị, thương mại điện tử và sẵn sàng hợp tác với các doanh nghiệp có ý tưởng và dự án sáng tạo về công nghệ nhằm mang lại lợi ích cho ngành du lịch. Đồng thời, cơ quan này cũng tích cực bảo trợ cho các dự án, chương trình ứng dụng công nghệ vào xúc tiến, quảng bá du lịch. Có thể kể đến một số dự án như triển khai ứng dụng công nghệ ảnh 360 độ trong du lịch, cụ thể là dự án Super Selfie và #WhyVietNam (https://whyvietnam.com/) là dự án tận dụng sức mạnh của cộng đồng và mạng xã hội để quảng bá hiệu quả những địa điểm du lịch nổi bật nhất của Việt Nam, thông qua đó, tăng nhận diện thương hiệu Du lịch Việt Nam và đẩy mạnh lượng khách du lịch quốc tế, đóng góp tích cực vào hoạt động quảng bá du lịch nước nhà. Bên cạnh đó, Tổng cục Du lịch đã ký kết thỏa thuận hợp tác với Đài truyền hình quốc gia (VTV) triển khai Cổng thông tin Du lịch thông minh - VTV travel (dulich.vtv.vn) nhằm cung cấp các nội dung, thông tin một cách toàn diện tới người dùng, đem đến những trải nghiệm du lịch thông minh trong thời đại công nghệ số 4.0, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

#### 2.2.2. Video

Các loại Video Marketing được các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân du lịch sử dụng khá đa dạng, phong phú để tiếp thị giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình tới khách hàng:

- Vlog/Vlogger: được hiểu là kênh chứa bài viết hoặc video (video blog) trên youtube (facebook, tiktok, instagram...) của một người nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng tới một nhóm người (gọi là Vlogger). Điều quan trọng là Vlog/Vlogger sở hữu lượng theo dõi và đăng ký kênh cực lớn. Các dạng Vlog/Vlogger này đã xuất hiện và có tầm ảnh hưởng, nhưng tốc độ phát triển trong thời gian gần đây ngày càng mạnh mẽ hơn khi các doanh nghiệp bắt đầu tấn công vào lĩnh vực này trong vấn đề truyền thông. Các Vlogger về du lịch nổi tiếng có thể kể tới: Vlog love Alana Chan, The Travel Vlogger, Gone with the Wynns, Fun for Louis, Khoai lang thang/Food and travel, Khoa pub,... được đánh giá là một trong những kênh Vlog về du lịch - ẩm thực - khám phá hàng đầu tại trên thế giới và Việt Nam với gần cả triệu subscribers; Dù nội dung video chỉ xoay quanh cuộc sống hàng ngày, vui chơi, giải trí... Vlog chiếm ưu thế hơn cả vì độ phủ sóng và không cần quá nhiều kỹ thuật.

- Video phát trực tiếp: Khi công nghệ phát triển mạnh mẽ thì các công cụ phát trực tiếp như: Facebook live, Youtube live, Instagram live, Twitter live hỗ trợ đắc lực cho vấn đề tương tác khách hàng dễ dàng. Từ 20/9/2021, Trung tâm xúc tiến du lịch Ninh Bình đã thực hiện chương trình du lịch trải nghiệm vào 9h00 sáng chủ nhật hàng tuần qua các nền tảng số bằng hình thức livestream trên Facebook thông qua hướng dẫn viên tại các điểm đến của Ninh Bình. Video trực tiếp là xu hướng nên áp dụng bởi tính cộng đồng cao, dễ dàng tương tác và cá nhân hóa thúc đẩy hành vi khách hàng cao.

- Video trên kênh Youtube: Theo như báo cáo của Youtube có hơn 1 tỷ người dùng (chiếm 1/3 lượng người dùng internet), độ tuổi từ 18-34, Youtube được dịch 80 ngôn ngữ ở 91 quốc gia và 1 tỷ giờ xem hàng ngày. Con số ấn tượng này ắt hẳn nhiều tổ chức/doanh nghiệp du lịch sẽ tiến hành quảng cáo video trên Youtube. Phát hành video trên Youtube không thể thay thế hoàn toàn việc quảng cáo qua tivi nhưng song với ưu điểm chi phí thấp, tiếp cận nhiều người và có thể dễ dàng xuyên quốc gia, xu hướng này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích trong việc tiếp thị thương hiệu, sản phẩm. Nhằm tăng cường quảng bá, tuyên truyền thông tin về du lịch Việt Nam trên các phương tiện truyền thông, Tổng cục Du lịch đã thực hiện “Xây dựng kênh hình ảnh quảng bá du lịch Việt Nam trên mạng xã hội Youtube” tại địa chỉ https://www.youtube.com/c/vietnamtourismmedia. Cụ thể, chuỗi clip quảng bá “Đất nước, con người Việt Nam” trên nền tảng YouTube do Trung tâm Thông tin du lịch, Tổng cục Du lịch triển khai với sự hỗ trợ, đồng hành của Tập đoàn Google và Vinpearl phù hợp với định hướng thúc đẩy quảng bá du lịch trên nền tảng số. Người dùng internet có thể xem hoàn toàn miễn phí nhiều bản tin, đoạn phim giới thiệu, quảng bá du lịch Việt Nam với hình ảnh và âm thanh chất lượng cao. Qua những thước phim sống động và cảm xúc chân thật, những video trải nghiệm đã lan tỏa vẻ đẹp thiên nhiên, tấm lòng hiếu khách và tình yêu quê hương đất nước đến với khách du lịch, góp phần đa dạng hóa các kênh thông tin cho du khách khi muốn tìm hiểu về du lịch Việt Nam, đáp ứng nhu cầu theo dõi các chương trình, bản tin du lịch của khán giả trong và ngoài nước.

#### 2.2.3. Mạng xã hội

Một nỗ lực khác đã được thực hiện bởi Tạp chí Du lịch Việt Nam là TikTok một ứng dụng tạo nền tảng video âm nhạc và mạng xã hội hàng đầu Châu Á bằng việc ký kết hợp tác chiến lược phát triển các nội dung quảng bá du lịch Việt Nam trên nền tảng TikTok; nghiên cứu đề xuất xây dựng dự án quảng bá du lịch Việt Nam đến các thị trường mục tiêu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Australia và lan rộng ra thế giới trong giai đoạn tiếp theo. Đây là một hoạt động quảng bá, thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển và đa dạng hóa nội dung, tôn vinh sự sáng tạo của người Việt. #HelloVietnam là một phần các hoạt động trong chuỗi chiến dịch quảng bá du lịch toàn cầu do TikTok khởi xướng với tên gọi #TikTokTravel nhằm tôn vinh các danh lam, thắng cảnh trên thế giới, mang đến một góc nhìn mới về du lịch, mang các nền văn hoá đến gần nhau hơn. Mục tiêu chính của chương trình #HelloVietnam giai đoạn 2019-2020 là tạo ra 30.000 nội dung video ngắn về cảnh đẹp, văn hóa và con người Việt Nam, phục vụ hơn 100 triệu lượt xem nội dung trực tuyến riêng trên nền tảng TikTok. Mỗi chu kỳ 2 tháng, các bên sẽ thực hiện một chương trình quảng bá cho một tỉnh hoặc một thành phố, khu vực nhằm quảng bá cho các địa điểm, sản phẩm du lịch của địa phương.

Tại Thừa Thiên Huế đã triển khai đề án phát triển du lịch thông minh, gắn với đô thị thông minh dựa trên cuộc CMCN 4.0. Các nền tảng mạng xã hội như Zalo, Facebook, Tiktok cũng đang được sử dụng để hỗ trợ đắc lực cho ngành du lịch tại địa phương trong công tác truyền thông, quảng bá cho các doanh nghiệp du lịch, các sản phẩm du lịch trên nền tảng số. Tính đến cuối tháng 4/2021, tài khoản chính thức của Sở Du lịch Thừa Thiên Huế cũng đã thu hút hơn 18 nghìn người theo dõi và 130 nghìn lượt yêu thích dù đang trong giai đoạn thử nghiệm.

#### 2.2.4. Du lịch thực tế ảo

Thời gian qua, nhiều điểm đến du lịch Việt Nam đã từng bước ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch. Điển hình như Hà Nội đã đưa vào khai thác hệ thống thuyết minh tự động 8 ngôn ngữ (Tiếng Việt, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc) về di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám; tham quan tour 3D tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (https://3d.vnfam.vn/vi#room=25) và phần mềm hướng dẫn tham quan Hoàng thành Thăng Long trên điện thoại di động với những ngôn ngữ thông dụng không chỉ tạo thuận lợi cho hành trình tham quan tìm hiểu di tích của du khách, mà còn trở thành một phương tiện quảng bá du lịch hữu hiệu cho ngành du lịch. Ngoài ra việc giới thiệu trang thông tin điện tử Hoàn Kiếm (www.hoankiem360.vn) giúp du khách dễ dàng tìm hiểu và trải nghiệm du lịch quận Hoàn Kiếm thông qua công nghệ ảnh 360 độ. Cùng với đó, du lịch Thủ đô đã xây dựng bản đồ số về du lịch Hà Nội theo công nghệ GIS, xây dựng Cổng thông tin điện tử du lịch Hà Nội, phủ wifi miễn phí ở nhiều địa điểm công cộng như khu vực hồ Hoàn Kiếm, sân bay quốc tế Nội Bài...

Tại Ninh Bình cũng đã chủ động tận dụng cơ hội đến từ cuộc CMCN 4.0 từ năm 2018 với việc xây dựng cổng thông tin du lịch và ứng dụng du lịch thông minh trên thiết bị di động, đồng thời số hoá dữ liệu ngành du lịch và kết nối cơ sở dữ liệu du lịch với các lĩnh vực của các sở, ban, ngành. Sau đó tỉnh này đã xây dựng kho dữ liệu về du lịch, triển khai tiếp thị bằng tin nhắn SMS dựa trên vị trí địa lý của khách hàng, cung cấp wifi công cộng miễn phí cho khách du lịch tại các điểm du lịch. Vào tháng 6/2018, Sở Du lịch Ninh Bình đã chính thức khai trương Cổng thông tin du lịch (visitninhbinh.vn) và ứng dụng du lịch thông minh trên thiết bị di động với tên gọi là "Ninh Bình Tourism" nhằm tạo thuận lợi cho du khách tìm kiếm thông tin chính xác và cập nhật về du lịch Ninh Bình.

Thành phố Hồ Chí Minh tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong ngành du lịch qua sử dụng một số trạm thông tin du lịch thông minh; phần mềm du lịch thông minh "Vibrant Ho Chi Minh City", phần mềm tiện ích khác như "Sai Gon Bus", "Ho Chi Minh City Travel Guide", "Ho Chi Minh City Guide and Map".

Tại Thừa Thiên Huế, được sự hỗ trợ của Công ty Vietsoftpro đã xây dựng nhiều sản phẩm du lịch số như: Xây dựng bản thuyết minh tự động, với 12 thứ tiếng và trợ lý du lịch ảo tại các điểm tham quan thuộc hệ thống di sản Huế; xây dựng bản đồ 3D về tài nguyên văn hóa di sản và du lịch; Ngoài ra, Lăng Tự Đức nằm trong 30 di tích, từ 13 quốc gia được Google số hóa 3D, giúp tăng hiệu quả trong quảng bá điểm đến du lịch bằng công nghệ số. Các sản phẩm đã nhận được phản hồi tích cực của du khách về việc tiếp cận và trải nghiệm du lịch thuận tiện, hấp dẫn.

Đà Nẵng cũng là địa phương đi đầu trong phát triển mô hình du lịch thông minh. Ngoài việc thường xuyên sử dụng các phương pháp marketing điện tử để quảng bá du lịch, Đà Nẵng đã xây dựng các hệ thống phần mềm, tiện ích hỗ trợ du khách như "Da Nang Tourism", "in DaNang", "Go! Đà Nẵng", "Da Nang Bus". Đặc biệt, Đà Nẵng đã đưa vào sử dụng ứng dụng chatbot "Da Nang Fantasticity". Đây là công nghệ được sử dụng đầu tiên tại Việt Nam và Đông Nam Á (cùng với Singapore).

2.3. Một số định hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong xúc tiến, quảng bá Du lịch Việt Nam

Để phát triển xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch tại Việt Nam trong thời gian tới, nhóm tác giả đề xuất cần tập trung thực hiện một số giải pháp căn bản sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách ứng dụng công nghệ số cho quảng bá xúc tiến sản phẩm. Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần có cơ chế, chính sách ưu tiên, khuyến khích các hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN cho ngành du lịch, ban hành những văn bản cụ thể, quy định, hướng dẫn chi tiết về ứng dụng công nghệ số để định hướng cho ngành du lịch và các địa phương trong việc triển khai thực hiện. Cơ quan quản lý du lịch các cấp cần xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, có lộ trình và bước đi phù hợp các hạng mục công nghệ cho công tác về phát triển xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch.

Hai là, tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của ngành du lịch nói chung và công tác quảng bá, xúc tiến du lịch nói riêng trong phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh các công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch nhất là trong bối cảnh mới với nhiều thời cơ nhưng không ít thách thức như hiện nay. Đổi mới phương thức truyền thông, xây dựng các chương trình xúc tiến quảng bá trực tuyến hướng tới thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế ưu tiên các thị trường trọng điểm và thị trường tiềm năng; khai thác ưu thế của mạng xã hội để giới thiệu thế mạnh du lịch, di tích văn hóa lịch sử, danh lam thắng cảnh, các giá trị văn hóa của địa phương; triển khai hệ thống nội dung giới thiệu điểm đến qua hệ thống mã QR tại địa điểm tham quan. Đồng thời, thực hiện chương trình “đi du lịch trực tuyến” hướng đến du khách nội địa với việc tăng cường cập nhật, quảng bá thông tin du lịch, chương trình kích cầu du lịch trên website, trang mạng du lịch và tài nguyên mạng xã hội khác.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực có trình độ công nghệ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển du lịch thông minh. Mở các lớp tập huấn, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ du lịch gắn với thực tiễn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch thay đổi cách thức tổ chức hoạt động tiếp thị, quảng cáo và chăm sóc khách hàng.

Bốn là, tiếp tục triển khai hệ thống du lịch thông minh, hình thành và đưa vào khai thác, sử dụng các thành phần cơ bản của hệ thống bảo đảm tính tiện ích, hấp dẫn du lịch.

Năm là, tăng cường nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch. Để các hoạt động xúc tiến du lịch đạt hiệu quả, cơ quan quản lý về du lịch địa phương cần xác định đổi mới, phối hợp hiệu quả công - tư trong xúc tiến, quảng bá du lịch. Đẩy mạnh phối hợp tích cực với các doanh nghiệp tổ chức các lễ hội, sự kiện du lịch, các hội nghị, hội thảo chuyên đề về du lịch để hấp dẫn du khách, tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch phù hợp, tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương.

3. Kết luận

Có thể thấy, trong xu thế chung, ngành du lịch đang chủ động ứng dụng công nghệ số, tiếp cận và tham gia vào cuộc CMCN 4.0, phát huy lợi ích của công nghệ số tạo ra nhiều lợi ích nhất cho các bên tham gia, tiến tới hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh gắn kết các chủ thể từ khách du lịch, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và cơ quan quản lý nhà nước. Ứng dụng công nghệ số vào xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch là hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh thị trường đang ngày càng mở rộng trong xu thế hội nhập và cạnh tranh ngày càng cao trong ngành du lịch.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Tuấn Anh (2020), Tổng quan du lịch thông minh Việt Nam, cơ hội và thách thức, Hội thảo quốc tế “Du lịch thông minh: hướng tới sự phát triển bền vững và hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và môi trường” diễn ra vào chiều ngày 23/10/2020 tại Hà Nội. Truy xuất từ https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/34510 2. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Hà Nội. 3. Cộng đồng Digital Marketing Việt Nam, (2020), Báo Cáo Việt Nam DIGITAL 2020 do We Are Social và Hootsuite thống kê. Truy xuất từ https://digimarkvn.com/bao-cao-viet-nam-digital-2020-do-we-are-social-va-hootsuite-thong-ke/ 4. Bùi Thị Thanh Diệu (2020), Xu hướng sử dụng Video marketing trong tiếp thị sản phẩm và dịch vụ Du lịch, Tạp chí Du lịch Việt Nam. 5. Trần Thị Huyền Thương, (2020), Thực trạng chuyển đổi số trong phát triển du lịch thông minh tại một số quốc gia trên thế giới, Tạp chí Thông tin & Truyền thông 6/2020. 6. Thủ tướng Chính phủ (2017), Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc Tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Hà Nội. 7. Thủ tướng Chính phủ (2018), Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2025, Hà Nội. 8. Tổng cục Du lịch (2016), Báo cáo thường niên Du lịch Việt Nam năm 2015, NXB Lao Động, Hà Nội. 9. Tổng cục Du lịch (2018), Báo cáo thường niên Du lịch Việt Nam năm 2017, NXB Lao Động, Hà Nội. 10. Tổng cục Du lịch (2019), Báo cáo thường niên Du lịch Việt Nam năm 2018, NXB Lao Động, Hà Nội. 11. Tổng cục Du lịch (2020), Báo cáo thường niên Du lịch Việt Nam năm 2019, NXB Lao Động, Hà Nội. 12. Tổ chức Du lịch Thế giới, (17/12/2020), Tourism back to 1990 levels as arrivals fall by more than 70%. Truy xuất từ https://www.unwto.org/news/tourism-back-to-1990-levels-as-arrivals-fall-by-more-than-70/ 13. Tổng cục Thống kê, (2020), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV năm 2020. Thông tin thống kê: Dữ liệu và Số liệu thống kê. Truy xuất từ https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2020/12/baocao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2020/