1. Đặc điểm vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ
1.1. Tài nguyên du lịch
Vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ tiếp giáp vùng du lịch Đông Nam Bộ ở phía nam thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Đông Nam Bộ trong quá trình phát triển; phía tây giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và vùng du lịch Tây Nguyên với vai trò làm cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên, Campuchia, Thái Lan thuận lợi giao lưu phát triển kinh tế và hình thành nền kinh tế mở; phía Bắc giáp vùng du lịch Bắc Trung Bộ; phía Đông là vùng biển với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 2014, Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch phát triển du lịch vùng với quan điểm phát triển du lịch cụ thể: “Phát triển đồng thời du lịch biển - đảo, du lịch văn hóa và du lịch sinh thái; trong đó lấy du lịch biển - đảo làm mũi nhọn; du lịch văn hóa là nền tảng, tập trung vào các giá trị văn hóa Chăm Pa, Sa Huỳnh, văn hóa của cư dân vùng biển duyên hải Miền Trung, văn hóa các dân tộc phía Đông dãy Trường Sơn, các di tích gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, để phát triển các loại hình du lịch đặc thù của Vùng” [2]. Quan điểm này đã khẳng định giá trị khác biệt và vượt trội của tài nguyên du lịch vùng đang sở hữu, đồng thời là định hướng cho sự đầu tư về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, xây dựng chiến lược kinh doanh của ngành du lịch VDL DHNTB trong tương lai.
2. Đặc điểm về thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
2.1. Một số đặc điểm thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
Theo Klaus Schwab, người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới, CMCN 4.0 được hiểu giản đơn như sau: “Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học”. CMCN 4.0 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối — Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) [4].
2.2. Điểm mạnh và điểm yếu của vùng du lịch Duyên hải Nam Trung bộ trước thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
* Điểm mạnh:
- Vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển du lịch trong nước và quốc tế: VDL DHNTB nằm ở vị trí thuận lợi về tiếp cận thông tin, giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế. Hệ thống giao thông vận tải hiện đại và đa dạng: nằm trên tuyến đường Bắc — Nam cả đường bộ và đường sắt, có hai sân bay quốc tế và ba sân bay nội địa, nhiều cảng nước sâu, gần đường hàng hải quốc tế, có tuyến đường bộ sang Lào. Là điểm trung gian giữa các vùng du lịch của Việt Nam. Vị trí địa lý trên là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch.
- Tài nguyên du lịch phong phú và độc đáo: VDL DHNTB có hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa đa dạng, đặc sắc như: du lịch biển đảo, hệ động thực vật, các di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử - văn hóa, đặc biệt là văn hóa Chăm Pa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ; các lễ hội văn hóa dân gian; ca múa nhạc truyền thống và hiện đại; ẩm thực; làng nghề thủ công;... Bờ biển dài với nhiều vũng, vịnh, đầm tạo cho vùng gắn với hình ảnh nổi bật trong tâm trí du khách là: “Những kì nghỉ tại các bãi biển cát trắng trải dài, nắng trong và biển xanh” [11]. Tính đến nay, tài nguyên du lịch biển đảo luôn là giá trị nổi trội nhất, tạo nên sức cạnh tranh và tính nhận diện của vùng, do vậy giá trị về tài nguyên biển đảo vẫn là các giá trị đại diện cho thương hiệu du lịch VDL DHNTB.
Thương hiệu du lịch văn hóa: vùng tập trung khai thác các giá trị văn hóa Chăm Pa, văn hóa Sa Huỳnh với một số bảo tàng độc đáo mang đặc trưng vùng miền và lưu trữ những cổ vật là tinh hoa văn hóa nghệ thuật, lịch sử như: Bảo tàng nghệ thuật Điêu khắc Chăm (Đà Nẵng), bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh (Hội An)... Bên cạnh đó, vùng còn có những làng nghề lâu đời như: Làng đá Non Nước (Đà Nẵng), làng gốm Thanh Hà (Quảng Nam), làng gốm Bầu Trúc (Ninh Thuận), làng dệt Mỹ Nghiệp (Ninh Thuận), nước mắm Phan Thiết (Bình Thuận)... Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của vùng.
Thương hiệu du lịch văn hoá gắn với ẩm thực: ẩm thực VDL DHNTB vừa mang tính chất đặc sắc của ẩm thực miền Trung vừa có hương vị riêng biệt, tạo được dấu ấn riêng cho du khách. Những món ngon trứ danh của vùng là: mì quảng, cao lâu, cơm gà Tam Kỳ, cá ngừ đại dương, sò huyết Ô Loan, tôm hùm Bình Ba, yến sào, mực một nắng... Ngoài ra, ở vùng còn nổi tiếng về một số đặc sản khác như: bòn bon (Quảng Nam); tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng, đường phổi, đường phèn, mạch nha (Quảng Ngãi); bánh tráng, rượu Bàu Đá (Bình Định); dừa xiêm, xoài (Khánh Hòa); nho, táo, hành (Ninh Thuận); thanh long (Bình Thuận);...
Bên cạnh đó, vấn đề an ninh an toàn trong khai thác phát triển du lịch ở VDL DHNTB tương đối tốt, ngày càng tạo sự tin tưởng cho khách du lịch. Đây là yếu tố thuận lợi và là một trong các yếu tố có sức hấp dẫn du khách rất cao.
- Các chính sách về ưu tiên phát triển du lịch: Chính phủ và các địa phương luôn chú trọng việc xây dựng các chính sách ưu tiên cho phát triển du lịch vùng.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng: mục tiêu cụ thể đặt ra đến năm 2020, thu hút khoảng 15 triệu lượt khách (trong đó, khoảng 4,5 triệu lượt khách quốc tế); phấn đấu đến 2030 thu hút khoảng 25 triệu lượt khách (trong đó khoảng 7,5 triệu lượt khách quốc tế). Tổng thu từ khách du lịch đến năm 2020 đạt khoảng 70.000 tỉ đồng; phấn đấu đến năm 2030 đạt 160.000 tỉ đồng. Các hướng phát triển chủ yếu: Phát triển đồng thời thị trường khách du lịch nội địa và quốc tế (thu hút mạnh thị trường Đông Bắc Á, Nga, các nước Đông Âu, Đông Nam Á, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ...); phát triển du lịch (ưu tiên sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, nhóm sản phẩm du lịch gắn với di sản văn hóa thế giới); tổ chức không gian phát triển du lịch (các tiểu vùng du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch...); đầu tư phát triển du lịch (vốn ngân sách, kể cả vốn ODA), vốn FDI, vốn huy động từ các tổ chức, doanh nghiệp và ưu tiên đầu tư chín khu du lịch quốc gia, sáu điểm du lịch quốc gia và bốn chương trình phát triển du lịch trong vùng. Mục tiêu tổng quát khẳng định: đến năm 2020 đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng và phấn đấu đến năm 2030 trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của vùng [2].
* Điểm yếu:
- Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, tuy nhiên phân bố không đồng đều giữa các địa phương: Mức độ đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tập trung chủ yếu ở tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa và Bình Thuận; trong khi đó tài nguyên du lịch của các địa phương khác có mức độ đa dạng và đặc sắc thấp.
3. Cơ hội và thách thức của vùng trước thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
3.1. Cơ hội
- Mở rộng thị trường du lịch, kích cầu du lịch hiệu quả:
Thị trường du lịch toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ với sự lên ngôi của du lịch trực tuyến. Tại khu vực Đông Nam Á, Google dự đoán giá trị của du lịch trực tuyến sẽ tăng từ 22 tỷ USD năm 2015 lên 90 tỷ USD năm 2025 [8].
Xu hướng trên thế giới hiện nay, việc sử dụng dịch vụ trên Internet để quyết định cho các chuyến đi và nội dung hoạt động du lịch ngày càng tăng. Tại Việt Nam, theo khảo sát của công ty Nghiên cứu thị trường Q&Me, có 88% khách du lịch tra cứu thông tin qua mạng, trong đó 35% thường xuyên sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin du lịch. Tra cứu Google Trends cho thấy, từ khóa “du lịch” được tìm kiếm tăng 3 lần trong 5 năm trở lại đây. Thông tin du lịch trong nước được tìm kiếm thường liên quan đến điểm đến, khách sạn, nhà hàng, kinh nghiệm du lịch... [9]. Ví dụ như tour tự túc có tên Free and Easy dành cho các bạn trẻ thông thạo tiếng Anh, dùng điện thoại thông minh để đặt phòng khách sạn và các dịch vụ du lịch trên mạng. Họ tự chủ tự đặt khách sạn, đặt vé và lên lịch trình, thay vì đi theo đoàn lớn do các công ty lữ hành quản lý. Những yếu tố này là nền tảng thuận lợi để du lịch Việt Nam phát triển trong thời kỳ CMCN 4.0.
- Tối ưu hóa hiệu quả của xúc tiến quảng bá và mở rộng thị trường:
Trước khi cuộc CMCN 4.0 diễn ra, để quảng bá hay phát triển điểm đến, người ta phải mất rất nhiều thời gian và phải trả một khoản kinh phí khá lớn cho việc quảng cáo thông qua hình thức truyền thống: truyền hình, báo, đài, tờ rơi, tập gấp, bản đồ, hội chợ du lịch, chương trình giới thiệu các tour du lịch... Hiện nay, thông qua ứng dụng các Website thông minh thì giá thành chi phí quảng cáo, tiếp thị và thời gian dành cho nó đã giảm rất nhiều; lượng khách hàng tiếp cận lớn và nhanh. Đây là một lợi thế to lớn do CMCN 4.0 mang lại cho ngành du lịch.
Nhờ có CMCN 4.0, từ việc số hóa các cơ sở dữ liệu du lịch như: giới thiệu các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa, bản đồ các điểm du lịch, hệ thống các nhà hàng, khách sạn, hệ thống giao thông... của mỗi địa phương, mỗi quốc gia đang được triển khai rộng rãi. Điều đó mang lại tiện ích cho các nhà quản lý, kinh doanh du lịch và cả du khách ở khắp nơi trên thế giới. Việc sử dụng hình ảnh, các thước phim 3D, 4D, nhất là công nghệ ảo cho phép tái tạo mô hình các tài nguyên du lịch: sự kiện lịch sử, không gian văn hóa cổ xưa, di tích lịch sử, những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ, các di sản. Sau khi tái tạo thành mô hình sẽ đưa lên các trang điện tử hoặc trình chiếu tại các điểm du lịch sẽ giúp cho tất cả mọi người trên khắp thế giới (trong đó có các du khách) dễ dàng tiếp cận, hiểu hơn và thích thú tìm hiểu tài nguyên du lịch của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Đây cũng là một trong những phương pháp kích cầu du lịch hiệu quả.
Việc áp dụng thành tựu công nghệ thông tin để gia tăng hiệu quả xúc tiến quảng bá và mở rộng thị trường du lịch tại VDL DHNTB là rất cần thiết và đúng xu hướng quốc tế.
- Tăng cường kết nối giữa các chủ thể trong ngành du lịch:
CMCN 4.0 với sự kết nối vạn vật là cơ hội để tăng cường sự kết nối của các mối quan hệ du khách — dân cư địa phương — đơn vị kinh doanh du lịch — cơ quan quản lý du lịch. Tạo cơ hội hợp tác, liên kết giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch trực tuyến, lưu trú, lữ hành, khu du lịch, các doanh nghiệp công nghệ thông tin, thanh toán, tiếp thị... Đối với các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch như: nhà hàng, khách sạn sẽ có điều kiện quảng bá trên mạng xã hội, dễ dàng gắn kết thông tin với khách du lịch để họ có thể đặt dịch vụ trực tiếp và sử dụng dịch vụ. Đối với các điểm du lịch, khu du lịch có điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường, quảng bá.
3.2. Thách thức
Bên cạnh thuận lợi, ngành du lịch Việt Nam nói chung bao gồm cả ngành du lịch của VDL DHNTB sẽ còn phải giải quyết nhiều bài toán đầy thử thách bởi bản chất của ngành du lịch mang tính dịch vụ rất cao, vừa vô hình lại vừa hữu hình. Qua đó buộc phải có sự tương tác giữa con người với con người. Du lịch thông minh theo một góc độ riêng vẫn bộc lộ tính chủ quan không thể phụ thuộc vào máy móc là có thể hoàn thiện. Cụ thể:
Năng lực cạnh tranh:
Hiện nay, hai trang web Agoda và Booking đang chiếm đến 80% thị phần đặt phòng ở Việt Nam, đây là hai thương hiệu có tiếng trên thế giới và được khách hàng quốc tế đánh giá rất cao.
Các chủ thể trong hoạt động du lịch đối mặt với những luồng thông tin đa dạng, trái chiều:
Sự bùng nổ hệ thống thông tin với khối lượng dữ liệu khổng lồ cung cấp cho các chủ thể trong ngành du lịch nhiều thông tin đa dạng và hữu ích, bên cạnh đó là những thông tin trái chiều, thông tin sai lệch. Đặc biệt sự bùng nổ của các trang mạng xã hội như: facebook, zalo... có khả năng lan truyền thông tin rất nhanh và lượng thông tin rất lớn. Vì vậy, những thông tin sai lệch, chưa được kiểm chứng cũng được phát tán nhanh và nhiều trường hợp bị kẻ xấu hoặc cách cạnh tranh không lành mạnh lợi dụng làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh hoặc với nhiều mục đích khác, hệ quả với ngành du lịch là nhiều trường hợp làm mất niềm tin của du khách khi đến với vùng.
- Thiếu hụt nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao:
Thách thức lớn nhất của ngành du lịch hiện tại là sự chuyên nghiệp của đội ngũ bao gồm: kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, tác phong, thái độ phục vụ, trình độ ngoại ngữ, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm cộng đồng. Chỉ khi cải thiện được những vấn đề trên, lao động ngành du lịch VDL DHNTB sẽ được nâng cao về trình độ kỹ năng nghề nghiệp, chuyên môn và ý thức lao động. Từ đó gia tăng chất lượng sản phẩm du lịch, giúp vùng có đủ khả năng cạnh tranh với các vùng du lịch khác ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.
Điều chắc chắn là cuộc CMCN 4.0 sẽ đe dọa nguồn lao động du lịch phổ thông. CMCN 4.0 sẽ tạo áp lực buộc người lao động phải chủ động nâng cao năng lực làm việc, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh gay gắt khi tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và điều đó làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so với sức lao động. Mặt khác, xét về tổng thể, các công việc an toàn và thu nhập cao hơn có thể sẽ gia tăng sau khi công nghệ thay thế dần con người.
Vấn đề an toàn và bảo mật thông tin:
Việc áp dụng rộng rãi những tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông bên cạnh những ưu điểm cũng gây ra nhiều nguy cơ và rủi ro mất an toàn thông tin.
Tại Việt Nam, vấn đề an ninh mạng đang ở tình trạng báo động. Hàng loạt vụ tấn công có chủ đích vào hệ thống sân bay, ngân hàng, website... thời gian qua là những minh chứng điển hình. Các mối đe dọa an ninh mạng hiện nay tập trung vào cả 3 loại hình: Phishing (lừa đảo đánh cắp thông tin), deface (tấn công thay đổi nội dung) và malware (phần mềm độc hại). Năm 2018, các mối đe dọa này tập trung vào hai nhóm chính là đánh cắp thông tin nhạy cảm từ các tổ chức, cá nhân, ngân hàng và cài mã độc tống tiền. Với bước tiến của cuộc CMCN 4.0, con người đang phải đối mặt với một mối đe dọa mới xuất phát từ các nền tảng trí tuệ nhân tạo.
Sử dụng Internet cũng đồng nghĩa chấp nhận rủi ro về công nghệ thông tin, không có an toàn thông tin 100%. Các cuộc tấn công mạng tập trung vào những lỗ hổng của phần mềm, thiết bị, ứng dụng; lỗ hổng giao thức. Bất kỳ hệ thống thông tin nào cũng đều có những lỗ hổng nhất định. Không phải đơn vị doanh nghiệp nào cũng coi trọng việc bảo mật thông tin trên môi trường mạng nên tại một số nơi còn thiếu sự quan tâm, đốc thúc từ cấp trên dẫn đến không có quy chế, chính sách cho an toàn thông tin.
Vậy phát triển du lịch thông minh ứng dụng công nghệ số tại VDL DHNTB cần đi song song với việc triển khai biện pháp bảo đảm an toàn và bảo mật thông tin trong tất cả các miền dữ liệu du lịch của vùng.
4. Kết luận
Để phát triển ngành kinh tế du lịch xứng tầm với tiềm năng, theo kịp sự phát triển của ngành du lịch quốc gia và ngành du lịch quốc tế, đòi hỏi VDL DHNTB phải nắm bắt tốt cơ hội từ cuộc CMCN 4.0 bước đầu là việc thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần ưu tiên ứng dụng công nghệ trong các hoạt động du lịch trực tuyến, điều này sẽ mang lại lợi ích to lớn ở các khâu: quảng bá, cung cấp dịch vụ, chăm sóc khách hàng...
Du lịch trực tuyến sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách du lịch, tạo kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với du khách, giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý du lịch. VDL DHNTB cần tập trung toàn lực để phát triển “du lịch thông minh”, ứng dụng công nghệ thông tin là cách nhanh và hiệu quả nhất để tăng trưởng ngành du lịch của vùng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cao đẳng VHNT&DL Sài Gòn và Đại học Charles De Gaulle (2016), Các loại hình du lịch hiện đại, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Tp. Hồ Chí Minh.
2. Chính phủ (2014), Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng duyên hải Nam Trung bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030”.
3. Cục Xuất nhập khẩu - Báo Công thương (2017), Cách mạng công nghiệp 4.0 với tăng trưởng của Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội.
---
*Số liệu du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: [Tổng cục Du lịch Việt Nam](https://tourism.gov.vn)*