1. Giới thiệu
Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. TNDL bao gồm trong đó phần lớn dưới dạng DSVH, là điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển sản phẩm DL, DSVH tạo ra sự khác biệt của sản phẩm DL và sức hấp dẫn đối với du khách. Như vậy, ngành DL đã khai thác DSVH thành sản phẩm do đó cần quan tâm đến việc bảo tồn TNDL này. Nghiên cứu bảo tồn DSVH không chỉ có ý nghĩa về mặt khảo cổ học, mà còn mang chức năng về kinh tế và xã hội, đặc biệt là vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành kinh doanh DL. Vì vậy, cần phải xem xét DSVH là một nhân tố để phát triển kinh tế, việc đưa ra những quyết định chính thức về bảo tồn, sử dụng và tái sử dụng DS là một phần cốt lõi trong các chính sách liên kết xã hội, môi trường, văn hóa, giáo dục và kế hoạch phát triển bền vững của quốc gia. Trong những năm qua vấn đề bảo tồn DSVH gắn với phát triển DL ở tỉnh Khánh Hòa tồn tại một số vấn đề bất cập, ngành DL khai thác DSVH nhưng chưa chủ động tham gia vào công tác gìn giữ DSVH.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả tiến hành nghiên cứu này nhằm nêu rõ vai trò của ngành DL trong bảo tồn và phát huy DSVH, đồng thời đề xuất một số kiến nghị để ngành DL Khánh Hòa khai thác bền vững nguồn TNDL vô giá này.
Các phương pháp nghiên cứu đã được triển khai gồm: nghiên cứu lý thuyết để có cơ sở lý luận chuẩn xác về bảo tồn DSVH, phân tích dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia nhằm có nhận định về thực trạng bảo tồn DSVH tại Khánh Hòa từ đó đề xuất một số hướng giúp ngành du lịch tăng cường vai trò trong bảo tồn DSVH.
2. Nội dung
2.1. Một số định nghĩa
#### 2.1.1. Cách hiểu về di sản văn hóa
Về nghĩa cụm từ "Di sản văn hóa" trong Luật di sản nêu: "Di sản văn hoá quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2001).
Di sản văn hóa vật thể: "DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia" (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2001).
Di sản văn hóa phi vật thể: "DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác" (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2009).
#### 2.1.2. Bảo tồn
Ý nghĩa cụm từ "bảo tồn" giải thích theo từ điển như sau: Bảo tồn là "giữ cho nguyên vẹn, không để mất mát, hư hỏng" (Nguyễn Tôn Nhan & Phú Văn Hẳn, 2013). DSVH có giá trị to lớn, là nguồn tài nguyên vô giá cho du lịch nói riêng và của đất nước nói chung. Nhà nước đã khẳng định tầm quan trọng của DSVH: "DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2001). Trong Luật Du lịch quy định về Nguyên tắc phát triển du lịch đi đôi với bảo tồn: "Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng" (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2017).
Nhìn chung, hoạt động bảo tồn DSVH bao gồm hai chức năng chính:
Thứ nhất, chức năng gìn giữ: chức năng này bắt đầu bằng công việc nghiên cứu, phát hiện các giá trị văn hóa, lựa chọn gìn giữ những yếu tố góp phần chứng minh được đặc trưng của văn hóa dân tộc, của địa phương, của đất nước qua từng thời kỳ lịch sử. Tiếp đến phải xác định các tiêu chuẩn nhằm gìn giữ di sản (DS). Cuối cùng là sự kết hợp giữa nhà nước và nhân dân để bảo tồn văn hóa.
Thứ hai, chức năng khai thác: người khai thác phải hiểu rõ nội dung giá trị của DS. Đối với người giới thiệu về DS phải vừa là người thuyết minh, vừa là người nghệ sĩ đồng thời là một người thầy. Có như vậy mới chủ động dẫn dắt khách tham quan cảm nhận sâu sắc, từ đó có ấn tượng đủ và đúng về giá trị văn hóa. Một cách khai thác khác cũng phát huy hiệu quả đó là kết hợp với những ngày kỉ niệm, dịp lễ gắn với DSVH để tổ chức trưng bày giới thiệu, các hoạt động lễ hội, hoạt động sân khấu hóa.
Tóm lại, bảo tồn DSVH là giữ lại những không gian vật chất và tinh thần do các thời kỳ trước tạo lập, điều này có nhiều ảnh hưởng đến quá trình xây dựng xã hội hiện đại. Đây là mâu thuẫn tất yếu trong quá trình đi lên, tuy vậy không thể vì bảo tồn mà cản trở sự phát triển xã hội, nhu cầu xây dựng khu dân cư, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng nơi có DSVH; ngược lại cũng không quá đề cao lợi ích hiện tại mà sao lãng hoặc coi nhẹ công việc bảo tồn văn hóa.
Công tác bảo tồn DSVH phải gắn liền với việc phát huy giá trị DS bởi chỉ như thế DS mới có sức sống bền vững. Theo đó, phát triển du lịch văn hoá là sản phẩm cốt lõi, vừa phát huy được thế mạnh địa phương, vừa là công cụ để bảo tồn giá trị DS. Hoạt động du lịch vừa khai thác văn hóa đồng thời nuôi dưỡng và truyền bá văn hóa. Vậy, hoạt động bảo tồn DSHV không chỉ diễn ra trong cộng đồng mà còn là hoạt động gắn liền với ngành kinh doanh du lịch.
2.2. Vai trò của di sản văn hóa trong phát triển du lịch tại Khánh Hòa
Trong xã hội hiện nay du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu và thực sự mang tính toàn cầu, thông qua du lịch các quốc gia trên thế giới được giao lưu và kết nối với nhau. Sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, phong phú và địa bàn hoạt động của du lịch cũng không ngừng được mở rộng.
Loại hình du lịch sinh thái, văn hóa tiếp tục được du khách lựa chọn. Du lịch sinh thái, văn hóa đem lại những lợi ích không thể phủ nhận đối với khách du lịch, với cộng đồng cư dân địa phương và cả cho sự bảo tồn, sử dụng bền vững các giá trị tài nguyên du lịch. Với xu hướng đi du lịch nhằm tìm hiểu sâu về đối tượng tham quan; việc khám phá thiên nhiên, khám phá những nét đặc sắc của văn hóa bản địa luôn là niềm hứng thú với du khách.
Với mục tiêu phát riển DL thành mũi nhọn của kinh tế Khánh Hòa, ngành DL tỉnh đã có vị thế nhất định trên bản đồ điểm đến du lịch thế giới. Các chương trình DL của tỉnh ngày càng thu hút nhiều hơn sự quan tâm và lựa chọn từ du khách trong và ngoài nước. Từ năm 2003, khi Khánh Hòa bắt đầu được Chính phủ cho phép tổ chức Festival biển hai năm một lần, TNDL văn hóa của tỉnh dần dần khẳng định được vị thế, giá trị DS không ngừng được tôn vinh. Gần hai mươi năm qua Khánh Hòa đã có sự hoàn thiện đáng kể về cơ cấu sản phẩm DL, nếu như trước đó tập trung khai thác thế mạnh DL biển thì hiện nay sản phẩm DL văn hóa đã xuất hiện nhiều, như vậy DSVH thực sự trở thành nguồn tài nguyên quan trọng để ngành DL tỉnh Khánh Hòa, góp phần thu hút khách DL, làm đa dạng sản phẩm, tăng thêm sự lựa chọn cho khách, kéo dài thời gian tham quan và lưu lại Khánh Hòa.
Có thể thấy, DSVH và phát triển DL có mối quan hệ tương tác, gắn bó mật thiết với nhau: DSVH là nguồn vốn, là cơ sở để du lịch khai thác thành sản phẩm bán ra thị trường; còn DL thực hiện nhiệm vụ quảng bá, gìn giữ các giá trị của DS, góp phần bảo tồn và phát huy DSVH địa phương. DSVH là linh hồn của các điểm đến DL, là một trong những điều kiện tiên quyết để kinh doanh DL. Ngược lại, nếu không có DL khai thác DSVH thành sản phẩm để du khách tiếp cận thì DSVH sẽ thiếu đi sức sống, không có cơ hội phát lộ các giá trị. Tóm lại, sự phát triển của DL Khánh Hòa không thể tách rời với khai thác DSVH, DL chính là cầu nối để DSVH tỉnh Khánh Hòa đến với công chúng từ đó phát huy và bảo tồn giá trị DS.
2.3. Những tác động của du lịch đến di sản văn hóa Khánh Hòa
Hiện nay, ngành du lịch Khánh Hòa đã từng bước giới thiệu di tích (DT) đến với khách du lịch, thông qua đó giúp khách trong và ngoài nước hiểu sâu hơn về lịch sử, con người, văn hóa Khánh Hòa. Ở Khánh Hòa, TNDL văn hóa đã được khai thác đan xen với thế mạnh TNDL tự nhiên giúp sản phẩm DL phong phú và hấp dẫn. Ví dụ chương trình city tour Nha Trang khai thác các điểm: danh thắng Hòn Chồng – Hòn Đỏ, Tháp bà Ponagar, chùa Long Sơn, nhà thờ Chánh tòa Nha Trang, kết hợp điểm mạnh là Vịnh Nha Trang.
Nghiên cứu cho thấy, kinh doanh du lịch tại Khánh Hòa trong những năm qua đã có nhiều tác động tích cực đối với DS và địa phương sở hữu DSVH, cụ thể như: (1) Xét dưới góc độ kinh tế: hoạt động DL đã thu hút nhiều hơn vốn đầu tư đến địa phương, tăng cơ hội việc làm, tạo thêm cơ hội kinh doanh cho cộng đồng cư dân địa phương từ đó gia tăng thu nhập, chất lượng cơ sở hạ tầng và dịch vụ DL (như hệ thống giao thông vận tải, đường xá, điện, nước, nhà hàng, cửa hiệu, khách sạn, nhà nghỉ, cơ hội giải trí...) cũng được nâng lên nhờ các dự án đầu tư của ngành DL. (2) Xét dưới góc độ văn hóa – xã hội: hoạt động DL đã góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống ở địa phương; DL cũng khích lệ lòng tự hào dân tộc và tạo động lực cho sự hồi sinh, phát triển của các hoạt động văn hóa truyền thống địa phương (như phát triển nghề thủ công, các loại hình biểu diễn nghệ thuật và âm nhạc); DL giúp cho việc gìn giữ, tôn tạo và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc của người dân địa phương. (3) Xét dưới góc độ môi trường: hoạt động DL tham gia vào việc gìn giữ môi trường tự nhiên, bảo vệ các loài động vật hoang dã tại DT giúp cải thiện môi trường sinh thái của địa phương; DL cũng tạo ra động cơ để địa phương phục hồi các danh thắng mang giá trị độc đáo từ đó thay đổi diện mao (bộ mặt) của địa phương thu hút ngày càng nhiều hơn du khách trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, hoạt động DL cũng tạo ra những mặt trái ảnh hưởng đến TNDL, nếu khai thác TNDL không hợp lý có thể dẫn đến những tác động tiêu cực trên cả ba lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường: (1) Tác động tiêu cực đến kinh tế: đa số lợi nhuận từ kinh doanh DL địa phương thuộc sở hữu của cá nhân và tổ chức ngoài địa phương; giá cả nhiều mặt hàng và dịch vụ tăng cao hơn do tâm lý bán hàng cho khách DL; tính mùa vụ của DL gây ra một số rủi ro: tình trạng thiếu việc làm hoặc thất nghiệp, giảm thu nhập. (2) Tác động tiêu cực đến môi trường văn hóa – xã hội: DL kích thích người dân địa phương giao lưu và tiếp biến văn hóa, dần mai một những giá trị văn hoá truyền thống; làm gia tăng các tệ nạn xã hội (tình trạng phạm tội, nghiện hút, mại dâm, cờ bạc, rượu chè, buôn lậu, trộm cắp...); khi lượng du khách tăng cao (nhất là dịp lễ) sẽ tạo ra áp lực lên môi trường xã hội khiến cho mâu thuẫn giữa cộng đồng cư dân địa phương và du khách càng trở nên gay gắt; nếu lực lượng hướng dẫn viên yếu sẽ cung cấp những thông tin sai lệch về DT làm lệch lạc giá trị DS. (3) Tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên: từ các hoạt động san ủi mặt bằng, xây dựng các cơ sở dịch vụ DL sẽ làm thay đổi cảnh quan; hoạt động DL cũng gây ô nhiễm về: không khí, nguồn nước, tiếng ồn, chất thải rắn và đất trồng; khi không gian DL mở rộng cũng đồng nghĩa không gian của các ngành kinh tế truyền thống ở địa phương bị thu hẹp hoặc loại bỏ.
2.4. Phát triển du lịch Khánh Hòa gắn với bảo tồn di sản văn hóa
#### 2.4.1. Kết quả bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020
Từ năm 2000, được sự quan tâm của chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đã đạt một số kết quả nhất định. Theo báo cáo của Sở Văn hóa và Thể Thao (2019) tính đến năm 2019 đã hoàn thành công tác tu bổ, tôn tạo 8/16 DT cấp quốc gia; thực hiện 107 đợt tu bổ 82 DT cấp tỉnh với tổng kinh phí hơn 50 tỷ đồng bao gồm các nguồn: ngân sách, nguồn thu khác từ điểm DT, xã hội hóa. Riêng với 2 DT (Tháp Bà Ponagar, Hòn Chồng – Hòn Đỏ) sử dụng tối thiểu 30% phí tham quan để phục vụ cho công tác đầu tư, tư bổ… (Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa, 2021).
Về công tác tuyên truyền giá trị DSVH, Từ năm 1998 đến 2017, Sở Văn hóa và Thể thao đã xây dựng 203 Bia tại các DT; Từ năm 2007 tổ chức định kỳ mỗi năm một lần Hội thi tìm hiểu DSVH cho học sinh trong tỉnh. Trung tâm bảo tồn DT Khánh Hòa biên soạn thông tin và công bố trên website (ditichkhanhhoa.org.vn) là biện pháp hữu hiệu góp phần tuyên truyền giá trị DS, là nguồn thông tin chính thống và chính xác để người dân, khách du lịch, hướng dẫn viên du lịch tìm đọc.
Tháng 12 năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt danh mục 245 di tích và danh lam thắng cảnh. Trong đó có 16 DT xếp hạng cấp quốc gia, 173 DT xếp hạng cấp tỉnh và 56 DT chưa xếp hạng. Đến năm 2019 có thêm 2 DT xếp hạng cấp tỉnh.
**Bảng 1. Di tích, danh thắng cấp quốc gia ở tỉnh Khánh Hòa**
| Stt | Tên | Địa chỉ | Năm công nhận |
|---|---|---|---|
| 1 | Tháp Bà Ponagar Nha Trang | Vĩnh Phước, Tp Nha Trang | 1979 |
| 2 | Thành Diên Khánh | Thị trấn Diên Khánh | 1988 |
| 3 | Phủ Đường Ninh Hòa | Ninh Hiệp, Tx Ninh Hòa | 2000 |
| 4 | Vịnh Nha Trang | Thành phố Nha Trang | 2005 |
| 5 | Am Chúa | Đại Điền Trung, Diên Điền, Diên Khánh | 1999 |
| 6 | Quần thể Di tích danh nhân Alexandre Jon Emile Yersin | Thành phố Nha Trang & huyện Cam Lâm | 1990 |
| 7 | Đình Phú Cang | Xã Vạn Phú, Vạn Ninh | 1998 |
| 8 | Hòn Chồng – Hòn Đỏ | Xã Vĩnh Phước, Vĩnh Thọ, Tp Nha Trang | 1998 |
| 9 | Lăng Bà Vú | Ninh Hiệp, Tx Ninh Hòa | 1999 |
| 10 | Văn Miếu Diên Khánh | Tổ 15, thị trấn Diên Khánh | 1998 |
| 11 | Đền Trần Quý Cáp | Tổ 5, thị trấn Diên Khánh | 1991 |
| 12 | Miếu Trịnh Phong | Xóm 1, thôn Phú Ân Nam 4, Diên An, Diên Khánh | 1991 |
| 13 | Mũi Đôi – Hòn Đầu | Vạn Thạnh, Vạn Ninh | 2005 |
| 14 | Địa điểm lưu niệm tàu C235 (đường Hồ Chí Minh trên biển) | Xã Ninh Vân, Tx Ninh Hòa | 2014 |
| 15 | Cụm Bia chủ quyền đảo Song Tử Tây và đảo Nam Yết | Xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn, Trường Sa | 2014 |
| 16 | Khảo cổ học Hòa Diêm | Xã Cam Thịnh Đông, Cam Lâm | 2014 |
*Nguồn: Trung tâm bảo tồn di tích Khánh Hòa*
**Bảng 2. Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia ở tỉnh Khánh Hòa**
| Stt | Tên | Địa chỉ | Năm công nhận |
|---|---|---|---|
| 1 | Lẽ hội Tháp Bà Ponagar | Vĩnh Phước – Tp Nha Trang | 2012 |
| 2 | Lễ hội cầu ngư ở Khánh Hòa | 46 đình làng có tổ chức lễ hội cầu ngư | 2012 |
| 3 | Lễ bỏ mả của người Raglai | Huyện Khánh Sơn, huyện Khánh Vĩnh | 2012 |
*Nguồn: Trung tâm bảo tồn di tích Khánh Hòa*
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH tiếp tục được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa (2019) khẳng định: Khuyến khích xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị của DT; thu hút đầu tư xây dựng các dự án du lịch gắn với các khu DT; các tuyến, điểm du lịch kết nối với các di tích. Việc đầu tư, nâng cấp DT phải đảm bảo hài hòa các mục tiêu: Đúng quy định pháp luật; giữ gìn, tôn tạo cảnh quan DT; phát triển DL; nâng cao đời sống của người dân; tuyên truyền, giáo dục lịch sử, truyền thống văn hóa; bảo vệ an ninh - quốc phòng.
Tuy nguồn TNDLvăn hóa của tỉnh Khánh Hòa phong phú và độc đáo, phân bổ đều khắp các địa phương, nhưng đến nay ngành DL tỉnh mới khai thác một số lượng rất nhỏ. Trong số 16 DT đã được xếp hạng cấp quốc gia chỉ có 3 di tích là điểm đến thường xuyên do các công ty lữ hành khai thác: Tháp Bà Pônagar, Vịnh Nha Trang, Hòn Chồng – Hòn Đỏ; 3 di tích là điểm đến của các chuyến tham quan tự phát: Thành Diên Khánh, Am Chúa, Mũi Đôi – Hòn Đầu. Trong 175 di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh với nhiều loại hình như: di tích lịch sử, đình, chùa, miếu… cũng chưa khai thác tương xứng với tiềm năng.
Theo ông Trần Minh Đức – Chủ tịch Hội Lữ hành Khánh Hòa: "Khánh Hòa có nhiều điểm đến văn hóa hấp dẫn, tuy nhiên do sự nổi trội và danh tiếng của biển đảo cùng thói quen tiêu dùng của khách hàng, bên cạnh đó là các điểm DSVH nằm rải rác nên chưa khai thác hiệu quả nguồn TNDL này". Ý kiến từ doanh nghiệp DL được phỏng vấn khẳng định sẵn sàng tham gia bảo tồn DSVH, tuy nhiên cần có sự chủ động phối hợp từ cơ quan quản lý DS, doanh nghiệp sẽ đảm nhiệm việc giới thiệu giá trị DS, đưa khách đến, góp kinh phí trong những đợt trùng tu DS.
Công tác bảo tồn DS ở Khánh Hòa được quan tâm và thực hiện liên tục, đã đạt những kết quả đánh khích lệ. Tuy nhiên, để việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Khánh Hòa theo kịp tốc độ phát triển xã hội và khắc phục nhanh những tác động chủ quan và khách quan cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba bên: cộng đồng cư dân sở hữu DS, cơ quan quản lý nhà nước về DS, tổ chức/ cá nhân khai thác giá trị DS phục vụ kinh doanh DL.
Hoạt động kinh doanh DL là quá trình tương tác giữa các bên: Cơ quan quản lý nhà nước về DL, doanh nghiệp DL, khách DL, cộng đồng cư dân nơi khai thác TNDL. Do đó, ngành DL Khánh Hòa muốn thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy DSVH cần xác định vai trò của 4 chủ thể trên.
#### 2.4.2. Vai trò của các cơ quan quản lý du lịch trong bảo tồn di sản
Công tác quản lý có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc bảo tồn DS ở mỗi địa phương. Xét một cách tổng thể các cơ quan quản lý DL sẽ đảm nhiệm các vấn đề cụ thể sau đối với lĩnh vực bảo tồn DS trong tỉnh.
Cơ quan quản lý DL là đơn vị được tỉnh giao lập kế hoạch đầu tư, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị DS. Như vậy, giá trị văn hóa và tuổi thọ của DS hoàn toàn phụ thuộc vào những đề án mang tính chất khoa học và hiệu quả. Để lập được kế hoạch phù hợp đòi hỏi sự quan tâm và tìm hiểu hiện trạng thực tế tại các DS, đồng thời những cán bộ làm việc phải có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp và cách nhìn tổng quát nhằm đưa ra các quy hoạch bảo tồn DS theo hướng bền vững.
Tuyên truyền vận động để người dân và khách du lịch hiểu đúng về giá trị và tình trạng của DS, từ đó gia tăng tinh thần và hành động tình nguyện giữ gìn DS trong công chúng.
Cơ quan quản lý DL còn thực hiện quyền lực do Nhà nước giao phó là xử lý các hành vi vi phạm; phòng ngừa, ngăn chặn không để tái diễn các vi phạm ảnh hưởng đến việc quảng bá và khai thác giá trị DS.
#### 2.4.3. Vai trò của các doanh nghiệp du lịch trong bảo tồn di sản
DSVH là nguồn TNDL để các doanh nghiệp DL xây dựng sản phẩm bán cho khách hàng. Doanh nghiệp DL là đối tượng trực tiếp khai thác giá trị của DSVH, do đó có mối quan hệ chặt chẽ với DS cũng như công tác bảo tồn DS.
Doanh nghiệp DL đóng vai lựa chọn giá trị DS đưa vào sản phẩm DL nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách. Giúp khách biết, chọn và tìm hiểu về DSVH địa phương.
Doanh nghiệp DL đóng góp nguồn kinh phí lớn vào việc bảo tồn DS, tạo ra nguồn thu tại các DT. Doanh nghiệp DL là cầu nối giúp khách thực hiện việc chi tiêu tại các DS; đây chính là nguồn thu chính của quỹ bảo tồn tại các DS, đồng thời tạo doanh thu cho toàn ngành du lịch tỉnh, từ đó tỉnh có kinh phí cấp cho các dự án lớn về trùng tu, tôn tạo DS.
Doanh nghiệp DL góp phần quảng bá hình ảnh DS cho công chúng trong và ngoài nước, thu hút sự quan tâm chú ý và khích lệ việc đóng góp về: tài chính, kinh nghiệm, khoa học kỹ thuật và nhân lực vào hoạt động bảo tồn DS.
Như vậy, khi ngành DL tham gia vào hoạt động khai thác giá trị DSVH cũng đồng nghĩa thực hiện nghĩa vụ phát huy DS, tập trung ở 3 nhóm sau:
(1) Giới thiệu, quảng bá DS đến du khách trong và ngoài nước
Kinh doanh DL là hoạt động xây dựng – bán – thực hiện các sản phẩm DL dựa trên việc khai thác TNDL tại điểm đến. Thông qua sản phẩm DL các đặc trưng về văn hóa và tự nhiên của vùng miền được khách DL biết và lựa chọn. Như vậy, doanh nghiệp DL đóng vai trò là cánh cửa để kết nối giữa DSVH và khách DL.
Trong quá trình khai thác DS, ngành DL đã làm nhiệm vụ quảng bá sâu hơn về hình ảnh và những giá trị DSVH tới nhân loại. Sau khi tham quan xong các DS, mỗi du khách sẽ có nhận định và ấn tượng riêng, chính họ trở thành kênh quảng cáo miễn phí và hiệu quả về DS.
Ngành DL sử dụng các phương tiện truyền thông truyền thống và hiện đại đã đưa thông tin và hình ảnh của DS Khánh Hòa phổ biến trong cả nước và ra thế giới. Giúp khách DL tiếp cận với DS nhanh và dễ dàng hơn, chỉ cần sử dụng internet du khách sẽ thấy được vẻ đẹp thơ mộng của vịnh Nha Trang, nét kiến trúc đặc sắc của Tháp Bà, những làng nghề truyền thống, các món ăn đậm chất vùng miền... Tất cả sẽ tác động đến sự lựa chọn và lôi cuốn du khách.
Thông qua các chương trình xúc tiến DL hàng năm của tỉnh, tham gia các hội chợ trong nước và quốc tế, trong các kỳ festival biển… đều hướng đến mục tiêu quảng bá giá trị TNDL Khánh Hòa, trong đó có giá trị DS.
(2) Thu hút các hoạt động phát huy giá trị DS
Hoạt động DL đã thúc đẩy nền kinh tế đa thành phần tại địa phương, tạo nên sức hút về vốn đầu tư để phát triển kinh tế và phát huy các giá trị DSVH.
Qua các hoạt động lễ hội, sự kiện văn hóa hàng năm đã thu hút nhiều khách DL trong và ngoài nước đến tham quan tìm hiểu TNDL giúp phát huy rộng rãi giá trị DS; từ những chương trình này cũng thu hút các dự án khai thác DS mang tính chất liên vùng của Chính phủ, Bộ VHTT và DL, các công ty lữ hành lớn trong nước và quốc tế như: Saigontourist, Viettravel, Pegas Touristik…
(3) Tăng cường nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng về sự cần thiết bào tồn và phát huy DS
Xét tổng thể, DL đã góp phần tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống cho một bộ phận dân cư. Khi lợi ích kinh tế từ DL được người dân tự ý thức, ủng hộ sẽ tạo động lực thu hút, huy động mọi nguồn lực trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DS phục vụ DL. Đây là yếu tố góp phần làm giảm tác động tiêu cực của cộng đồng đến các giá trị DS, qua đó góp phần tăng cường ý thức và hành động từ cộng đồng vào việc bảo tồn tài nguyên, môi trường đảm bảo cho phát triển DL bền vững.
Hoạt động DL tại các DS giúp người dân nhận ra giá trị văn hóa của quê hương, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc; từ đó có những thái độ trân trọng, đồng thời chủ động tìm hiểu và giới thiệu các giá trị này đến khách tham quan. Người dân địa phương sẽ có nhiều hoạt động tự nguyện bảo vệ tài sản DS; tích cực tham gia, ủng hộ các chương trình liên quan đến việc bảo tồn và duy trì hoạt động ở DT.
#### 2.4.4. Vai trò của cộng đồng cư dân địa phương trong bảo tồn di sản
Trong mối quan hệ giữa cộng đồng cư dân địa phương và DS luôn có sự gắn bó mật thiết, cộng đồng cư dân địa phương chính là những người nắm giữ và sử dụng DS, vừa là chủ thể sáng tạo vừa là người hưởng thụ các giá trị DS.
DS được hình thành từ cộng đồng và phục vụ đời sống của cộng đồng. Chính vì vậy cộng đồng là chủ thể quan trọng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc còn in đậm tại các DS, tạo môi trường sống cho DS.
Từ vai trò mang tính quyết định của cộng đồng cư dân địa phương đối với vấn đề bảo tồn DS, khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cộng đồng cư dân địa phương và vấn đề bảo tồn DS luôn phải làm sáng tỏ những khía cạnh như: nhận thức của người dân về DS và phương pháp quản lý DS, cộng đồng địa phương có tích cực tham gia vào công tác bảo tồn DS, niềm tự hào về DS.
Vai trò của cư dân địa phương còn thể hiện thông qua việc phát hiện, sưu tầm và hiến tặng tài liệu, hiện vật liên quan đến DS; giúp tăng cường cơ sở khoa học để khẳng định các giá trị truyền thống.
Cộng đồng địa phương cùng tham gia giám sát hoạt động tại các DS, đặc biệt là hoạt động tu bổ và kinh doanh DL. Họ chính là chủ nhân thực sự, có trách nhiệm và được quyền quan tâm tới DS tại địa phương mình, cư dân địa phương là người hiểu rõ DS vì vậy có thể đưa ra những ý kiến hợp lý đối với việc khai thác DL và công việc cần làm trong tu bổ DS. Khi người dân cùng chung tay vào quá trình bảo tồn, phát huy giá trị DS thì hiệu quả kinh tế mang lại từ hoạt động kinh doanh DL là rất lớn, góp phần để lại những dấu ấn đặc sắc dân tộc đồng thời kéo dài tuổi thọ của DS.
Thời gian qua nhiều DS trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có dấu hiệu bị mai một, nhất là giá trị văn hóa: người dân địa phương thậm chí không biết quê hương mình có DS. Một số DS bị xuống cấp do việc bảo tồn chưa đúng quy trình ở một vài khu vực trong tỉnh đã dẫn đến những ảnh hưởng xấu đến các giá trị của DS. Điều này cho thấy, bên cạnh trách nhiệm quản lý của nhà nước đối với các DS thì cộng đồng cư dân địa phương đóng vai trò rất quan trọng, người dân sống cạnh DS và có khả năng bảo vệ DS hiệu quả nhất, kịp thời nhất.
Hàng năm ở tỉnh Khánh Hòa có nhiều lễ hội đã thu hút sự chú ý và ấn tượng cho du khách: Festival Biển, lễ hội cầu ngư, lễ hội Am chúa, lễ hội Tháp Bà Ponagar, lễ hội tại các đình. Thực tế cho thấy, những nghi lễ dân gian là nơi hội tụ sức mạnh của cộng đồng, chứa đựng nhiều ý nghĩa và biểu tượng văn hóa đã được trao truyền từ đời này qua đời khác. Hầu hết các lễ hội đều do cộng đồng làm chủ, vì vậy chính cộng đồng cư dân địa phương chứ không phải các thủ tục hành chính hay sân khấu biểu diễn nào sẽ khiến DSVH được bảo tồn nguyên vẹn.
#### 2.4.5. Vai trò của khách du lịch trong bảo tồn di sản
Du khách đến tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu DS đã góp phần vào việc kế thừa, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa.
Khách DL đóng góp kinh phí vào quỹ bảo tồn DS thông qua việc mua vé tham quan và công đức.
Nêu ý kiến, kinh nghiệm, đóng góp về chuyên môn của du khách đối với lĩnh vực sử dụng và trùng tu DS.
Khách DL là người tham gia trực tiếp vào công việc giữ gìn cảnh quan và môi trường tại DS, khi đi DL du khách cần tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường tại nơi đến DL và sự chỉ dẫn bảo vệ môi trường của doanh nghiệp lữ hành, của tổ chức, cá nhân vận chuyển và những người có thẩm quyền quản lý DS; xả rác đúng nơi quy định; mặc trang phục và có thái độ phù hợp khi đến tham quan điểm tín ngưỡng, tôn giáo.
Thái độ và hành vi trân trọng của du khách quốc tế đối với DS Việt Nam cũng góp phần giáo dục người dân địa phương về trách nhiệm đối với di sản đất nước mình.
3. Kết luận và đề xuất
3.1. Kết luận
DSVH và kinh doanh du lịch luôn có mối quan hệ cộng sinh. Những năm gần đây du lịch đã trở thành hiện tượng kinh tế xã hội ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nhiều chương trình du lịch văn hóa ra đời là một minh chứng cho tầm quan trọng của di sản văn hóa và mối quan hệ giữa du lịch với văn hóa. Du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần giới thiệu về văn hóa và con người với cộng đồng quốc tế, góp phần bảo tồn văn hóa.
Sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo tồn các cổ tích bắt đầu từ sắc lệnh 65 năm 1945, trong đó nêu rõ: "Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam"; đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 nêu: "văn hoá là nền tảng của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế", Nghị quyết cũng chỉ rõ: "Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại".
Công tác bảo tồn DSVH phải gắn liền với việc phát huy giá trị DS bởi chỉ có như thế DS mới có sức sống bền vững. Kinh doanh DL tại Khánh Hòa gắn liền việc khai thác và phát huy giá trị DSVH là giải pháp tốt nhất để bảo tồn DS, làm cho tài nguyên sống và hòa vào xã hội đương đại, gia tăng tác dụng giáo dục và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế, tạo nguồn lợi để bảo tồn DS. Bảo tồn DS là cách làm cần thiết và hiệu quả để nuôi dưỡng tương lai của ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa. Du khách biết đến Khánh Hòa bởi bờ biển đẹp, vịnh Nha Trang, Hòn Chồng – Hòn Đỏ, đầm Nha Phu, Bãi Dài, Dốc Lết, các trung tâm bùn khoáng; bởi các điểm đến văn hóa: tháp Bà Ponagar, chùa Long Sơn, nhà thờ Đá, Viện Hải Dương học, chợ Đầm, đặc sản, hàng lưu niệm, dịch vụ cao cấp được đầu tư mới thường xuyên...và cả lòng mến khách của người dân. Như vậy tiềm năng phát triển du lịch của Khánh Hòa là vô cùng to lớn và có khả năng khai thác lâu dài. Tuy nhiên vấn đề đặt ra đối với ngành du lịch tỉnh là làm thế nào khai thác hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên du lịch này.
Giá trị DSVH chỉ được bảo vệ và khai thác hợp lý khi có sự phối hợp đồng bộ của các ngành, các cấp và nhân dân. Ngành DL có nhiệm vụ thu hút, đưa du khách đến với DS, nhưng việc khách du lịch có thích đối tượng tham quan, có muốn quay trở lại lần nữa, có giới thiệu với bạn bè và người thân của họ hay không hoàn toàn phụ thuộc vào hành động của chính những cơ quan quản lý, sử dụng tài nguyên và nhân dân địa phương. Muốn bảo tồn DSVH cần xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa ba chân kiềng: cộng đồng cư dân địa phương (chủ sở hữu DS), chính quyền địa phương (cơ quan quản lý DS) và doanh nghiệp du lịch (đơn vị khai thác DS dưới góc độ kinh doanh).
3.2. Đề xuất
**+ Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch**
Đề nghị Chính phủ xây dựng các dự án trọng điểm quốc gia về khai thác du lịch gắn với bảo tồn DS tại Khánh Hòa, có cơ chế cụ thể hỗ trợ kinh phí và chuyên môn đối với công tác bảo tồn DS giúp tỉnh từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách trong bảo tồn DS, kịp thời gìn giữ và trùng tu các DS có nguy cơ xuống cấp nghiêm trọng.
Đề nghị Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch hỗ trợ quảng bá xúc tiến du lịch, tạo điều kiện cho các hãng hàng không quốc tế mở đường bay quốc tế trực tiếp đến sân bay Quốc tế Cam Ranh, cải cách thủ tục hành chính trong khâu xuất – nhập cảnh du lịch.
Sở Du lịch Khánh Hòa tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng thuyết minh của hướng dẫn viên du lịch, xử phạt nghiêm những trường hợp thuyết minh sai lệch về DSVH. Sở Du lịch phối hợp với Hội Hướng dẫn viên du lịch Việt Nam tổ chức các đợt thi xếp hạng sao hướng dẫn, xem đây là tiêu chuẩn làm nghề.
**+ Đối với chính quyền địa phương**
Tổ chức hội nghị chuyên đề hàng năm về đào tạo nhân lực du lịch gắn với bảo tồn DSVH. Mở rộng cuộc thi tìm hiểu DSVH Khánh Hòa cho đối tượng sinh viên và đội ngũ nhân lực DL.
Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản luật về quản lý môi trường cảnh quan xung quanh DS; các chính sách nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong hoạt động du lịch gắn với bảo tồn DS. Quy định rõ trách nhiệm của cá nhân/ tổ chức DL về trách nhiệm tham gia bảo tồn DSVH.
Tỉnh cần xây dựng các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp xây dựng tuyến, tour du lịch khai thác các DT mang đậm bản sắc văn hóa và truyền thống của địa phương.
**+ Đối với doanh nghiệp du lịch**
Tăng cường hợp tác, liên kết cùng chính quyền và cộng đồng địa phương để tạo ra những sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Tôn trọng sức chứa trong du lịch văn hóa và du lịch sinh thái.
Lồng ghép nội dung thuyết minh về bảo vệ DSVH, khuyến khích du khách tham gia vào hoạt động bảo tồn DS Khánh Hòa.
Tăng cường quảng bá, xúc tiến DSVH Khánh Hòa thông qua trang web, tờ rơi, tập gấp của công ty.
Tích cực hưởng ứng các chương trình phát huy, trùng tu, tôn tạo DS của chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương.
**+ Đối với cộng đồng địa phương**
Một số người dân nên chấm dứt tình trạng lấn chiếm DS, bán hàng rong, xin tiền, chèo kéo, đeo bám du khách gây ấn tượng phản cảm.
Thể hiện lòng hiếu khách đối với khách du lịch khi tham quan làng nghề, DS. Tạo một môi trường xã hội an ninh và an toàn cho du khách.
Tích cực tham gia các hoạt động bảo tồn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn không chỉ vì hoạt động du lịch mà vì lợi ích lâu dài của thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai.
DSVH có thể tồn tại lâu dài hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc xác định lợi ích trong khai thác và trách nhiệm trong bảo tồn của cộng đồng cư dân địa phương.
**+ Đối với khách du lịch**
Tôn trọng các quy định, nguyên tắc ứng xử, truyền thống văn hóa bản địa; tránh những hành vi ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của cộng đồng địa phương.
Giữ gìn và bảo vệ môi trường, tôn trọng giá trị TNDL tại điểm đến.
Tư vấn, phản hồi với doanh nghiệp du lịch, ban quản lý tại DT về chất lượng DS và vấn đề trùng tu, chất lượng các dịch vụ.
Giới thiệu, tuyên truyền cho những người thân quen về giá trị DSVH đã được tham quan tại Khánh Hòa.
Tài liệu tham khảo
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa.
2. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa (2019), Chỉ thị số 21-CT/TU ngày 11/9/2019 về "Tăng cường bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh".
3. Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2021), Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND ngày 14/4/2021 về việc "Quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng".
4. Nguyễn Tôn Nhan, Phú Văn Hẳn (2013), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật Di sản văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Luật Du lịch Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. UBND tỉnh Khánh Hòa (2013), Báo cáo số 63/BC-UBND ngày 12/4/2013 về "Tình hình thi hành Luật Di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa".
9. Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Khánh Hòa (2019), Báo cáo số 36/BC-SVHTT ngày 19/3/ 2019 của về "Tổng kết 10 năm chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020".
10. UNESCO (2003), Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Phiên họp lần thứ 32 của Đại hội đồng, từ ngày 29/9 đến 17/10/ 2003, Paris.
11. UBND tỉnh Khánh Hòa (2010), Chỉ thị số 25/CT-UBND ngày 9/7/2010 về việc "Tăng cường công tác quản lý di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa".
---
*Số liệu di tích và di sản văn hóa Khánh Hòa: [Cổng thông tin điện tử tỉnh Khánh Hòa](https://www.khanhhoa.gov.vn)*